ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào nằm trong khu vực Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới, mƣa ẩm và giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong quản lý, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, Đảng, Nhà nƣớc, Chính phủ và Nhân dân Lào đã phân khu, thành lập một số khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có Khu bảo tồn Pouxiengthong nhằm quản lý hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên không những hiện tại còn cho các thế hệ mai sau. Khu bảo tồn Pouxiengthong (KBTPXT), đƣợc thành lập từ năm 1993 với tổng diện tích là 34.821 ha, nằm trên địa bàn 3 huyện trong tỉnh Champasack thuộc miền Nam Lào, với đủ các kiểu rừng phân bố tự nhiên trong khu vực (Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông Lâm Lào (2018))[13]. KBTPXT đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đánh giá là trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Lào và là nơi còn nhiều loài động vật quý hiếm, đặc hữu đƣợc ghi trong Danh Lục Đỏ Thế giới năm 2019 và sách Đỏ Lào 2018 (IUCN, 2019)[16].
Tuy nhiên, trong những năm qua, tài nguyên thực, động vật rừng ở đây bị tàn phá nặng nề do nhiều nguyên nhân, trong đó có các hoạt động của ngƣời dân vùng đệm là chủ yếu, chiếm trên 70 % các vụ xâm hại và tàn phá rừng (Phaivanh Phiapalath, 2018)[17]. Để quản lý tốt KBTPXT, điều khó khăn nhất gặp phải là vấn đề mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn với sinh kế của ngƣời dân sống trong và gần khu bảo tồn vẫn đang tồn tại. Thực tế cho thấy, ngay từ khi thành lập khu bảo tồn đã làm mất đi nguồn sinh kế của phần lớn các cộng đồng dân cƣ sống trong và gần rừng từ bao đời. Họ cho rằng, việc thành lập khu bảo tồn đã không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt thòi vì không đƣợc tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên nhƣ trƣớc nữa (Phaivanh Phiapalath, 2018)[17].
Trong khi đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập từ một số dự án, chƣơng trình khác cho ngƣời dân nơi đây chƣa bù đắp đƣợc sự thiếu hụt lớn lao này. Chính vì vậy, đã gây ra mâu thuẫn giữa Khu bảo tồn với ngƣời dân địa phƣơng - những ngƣời đã và đang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 sống phụ thuộc một phần vào nguồn tài nguyên rừng (TNR). Do đó, việc tồn tại những tác động bất lợi của ngƣời dân vào TNR là một quá trình tất yếu cần đƣợc phân tích đánh giá. Hiện nay, dân số sống trong và quanh KBTPXT có khoảng 5.375 ngƣời, gồm 3 dân tộc Lào anh em, trong đó có bản Khampieng (UBND tỉnh Champasac, 2019)[23], đã sinh sống lâu đời ở nơi đây với những tập quán truyền thống nhƣ canh tác nƣơng rẫy, du canh, du cƣ, săn bắn động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lƣợm các sản phẩm từ rừng, v.
Đời sống của ngƣời dân địa phƣơng còn nhiều khó khăn, phần lớn dựa vào nguồn TNR là chính, họ cố gắng tiếp cận đến mức tối đa nguồn tài nguyên này mỗi khi có cơ hội. Bản Khampieng là một bản của cộng đồng dân tộc Lào, nằm giáp khu bảo tồn Pouxiengthong, đời sống của ngƣời dân trong bản còn ngặp nhiều khó khăn và sống dựa vào tài nguyên rừng và đất rừng từ nhiều đời nay. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giảm thiểu những tác động bất lợi của ngƣời dân địa phƣơng tới TNR ở KBTPXT nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và đồng thời phát triển bên vững sinh kế cuả cộng đồng nơi đây. Để trả lời câu hỏi trên và góp phần làm rõ những tồn tại nêu trên, đề tài luận văn: ―Nghiên cứu các tác động người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn Pouxiengthong - nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào", đƣợc thực hiện.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng Quốc tế đã có những công trình nghiên cứu, nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lƣợc bảo tồn. Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc hình thành và khẳng định tính ƣu việt, đó là liên kết quản lý KBT với các hoạt động sinh kế của ngƣời dân địa phƣơng, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định. Nhìn chung các Khu bảo tồn (KBT) đều đƣợc thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của ngƣời dân địa phƣơng.
Phƣơng thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm ngƣời đân địa phƣơng xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR). Tại các nƣớc Đông Nam Á, phƣơng thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì ngƣời dân địa phƣơng bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn. Nguồn gốc của từ KBTTN ―hiện đại‖ có từ thể ký thứ 19. VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, đƣợc thành lập tại Mỹ năm 1872.
VQG này nằm trên vùng đất do ngƣời Crow và ngƣời Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc ngƣời này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBTTN và VQG đƣợc thành lập sau đó ở các nƣớc khác nhau trên thế giới cùng sử dụng phƣơng thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm ngƣời dân địa phƣơng thâm nhập vào KBTTN và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hậu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đẳng địa phƣơng và KBT và mục đích bảo tổn tài nguyên đã không đạt đƣợc [12]. Ở nƣớc Cộng hòa Nepal, đã có một số mô hình thành công về chƣơng trình bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) theo hƣớng toàn cầu.
Tuy nhiên, do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 sự ảnh hƣởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã đƣợc thực hiện. Nghiên cứu của Nepal đã khăng định, 73% ngƣời dân địa phƣơng sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn [39]. Ở Ấn Độ, nơi ƣớc tính có 275 triệu ngƣời dân địa phƣơng ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ).
Theo Gadgil và VP.Vartok năm 1976 trong tác phẩm: ―Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ" cho rằng: Ngƣời đân địa phƣơng ở Ấn Độ đã bảo vệ đƣợc các đám rừng từ 0,5 ha đến 10 ha dƣới dạng lùm cây thiêng đề thờ các vị thần của lùm cây. Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó đƣợc hình thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lƣợm. Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm. Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lƣợm một số sản phẩm nhƣ: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô,.
Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhƣng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996) [9]. Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn đề xoá đói giảm nghèo và tăng trƣởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn [40]. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa đạng sinh học và phát triển đã trở -thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây. Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trƣờng và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức đƣợc công nhận [25].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đƣa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả nhƣ mong muốn trên cả phƣơng diện quản lý TNR và kinh tế xã hội (KT- XH). Việc đƣa ngƣời dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào ―bắt cá khỏi nƣớc‖ và khi đó lực lƣợng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có ngƣời bảo vệ. Ngƣời dân địa phƣơng có nhiều kiến thức truyền thống về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [30]. Trƣớc những bắt cập trong công tác bảo tổn ở các VQG, KBT trên thế giới, từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tổn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lƣợc bảo tồn.
Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc hình thành và khẳng định tính ƣu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của ngƣời dân địa phƣơng, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định. Kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng, để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của ngƣời dân địa phƣơng. Ở VQG Kakadu (Australia), những ngƣời thổ dân chẳng những đƣợc chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn đƣợc thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và đƣợc tham gia quản lý VQG thông qua các đại điện của họ trong ban quản lý. Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [35].
Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án ―Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác‖ thực hiện tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.