Đặt vấn đề Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…. Vai trò của rừng là rất to lớn, tuy nhiên có một số nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng ngày càng thu hẹp, đó là do tác động của chiến tranh, áp lực về dân số ở các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp kiến thức bản địa chưa được phát huy, các hoạt động khuyến nông khuyến lâm chưa được phát triển, chính sách nhà nước về quản lý bảo vệ rừng còn nhiều bất cập cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều thay đổi. Hệ thống các khu bảo tồn đã và đang gặp không ít khó khăn từ phía người dân và cộng đồng địa phương.
Điều khó khăn lớn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn là số dân sinh sống phía trong và ngoài sát với khu bảo tồn, thậm chí ngay cả trong khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn. Bắt đầu từ những thay đổi của họ về vị trí nhà ở, về thói quen chiếm hữu đất đai canh tác, phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng và do đó ảnh hưởng đến công tác bảo vệ. TNR là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần rừng từ bao đời nay, giờ đây dường như đã không còn là của họ. Họ đa số là người nghèo, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn, không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước nữa.
Trong khi đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác cho người dân địa phương chưa bù đắp được sự thiếu hụt lớn lao này. Chính vì vậy, đã gây ra mâu thuẫn giữa khu bảo tồn với người dân địa phương - những người đã và đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn TNR. Do đó, việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào TNR là một tất yếu. Vì vậy đề tài được thực hiện nhằm đánh giá mức độ tác động của cộng đồng địa phương 2 đến tài nguyên rừng KBT.
Từ đó đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động của người dân đến tài nguyên rừng, giúp họ có một cuộc sống tốt hơn bằng những tác động tích cực vào rừng. Từ khi chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng trở nên khả quan hơn. Để đạt được kết quả đó, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trồng, chăm sóc quản lý và bảo vệ. Những chính sách này đã góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất trống đồi núi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại.
Có được kết quả đó là do những cơ chế chính sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến theo hướng xã hội hóa nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động tham gia quản lý bảo vệ rừng (Chỉ thị số 286/TTg Thủ Tướng Chính Phủ, 1997) [14]. Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang, có nhiệm vụ chính là bảo vệ hệ động, thực vật trên núi đá vôi, bảo vệ nguồn gen và cảnh quan môi trường, phát huy tính phòng hộ đầu nguồn khu vực (Quyết định số 2601/QĐ-UB UBND tỉnh Hà Giang, 2000) [19]. Bát Đại Sơn là khu vực thuộc vùng núi phía bắc, người dân sinh sống ở đây chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn, sống phụ thuộc vào rừng. Hoạt động sống của người dân nơi đây ít nhiều ảnh hưởng tới hệ động thực vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.
Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương địa phương xã Cán Tỷ đến tài nguyên rừng Khu bảo tồn thên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang” 1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn làm cơ sở từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định những tác động tiêu cực và tích cực của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn – Hà Giang. - Đề xuất biện pháp làm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng.
Ỹ nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành nghiên cứu khoa học, biết phân bổ thời gian một cách hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở khoa học để củng cố những kiến thức đã học tại nhà trường vào hoạt động thực tiễn. Ý nghĩa thực tiến sản xuất - Qua đề tài biết được mức độ tác động của người dân tới tài nguyên rừng từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn tránh sự suy giảm đa dạng sinh học. - Đưa ra các biện pháp giúp người dân sống trong rừng, gần rừng và phụ thộc vào rừng cải thiện sinh kế, tránh những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng.
4 PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm cộng đồng địa phương và vùng đệm 2. Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone) - Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm như sau: “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm” (Võ Nguyên Huân, 2009) [16].
- Theo khái niệm về vùng đệm ở Việt Nam như sau: “Vùng đệm là vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm liền kề ngoài khu bảo tồn và bao quanh khu bảo tồn, có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu bảo tồn. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn ở khu bảo tồn và vùng đệm, không di dân từ bên ngoài vào vùng đệm với bất cứ hình thức nào; tích cực phát triển kinh tế góp phần ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất – văn hoá – tinh thần của dân cư sống trong vùng đệm” (Võ Nguyên Huân, 2009) [16]. Khái niện cộng đồng địa phương (Local Community) Cộng đồng địa phương là một nhóm người sống trong cùng một môi trường, một không gian, có lãnh thổ xác định, có những điểm tương đối giống nhau, có mối quan hệ nhất định với nhau (Phạm Hoàng Hải và cs, 2014) [15]. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới Năm 1872, Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó là vườn quốc gia Yellowstone.
Vườn quốc gia này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều khu bảo tồn thên nhiên và vườn quốc gia được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào khu bảo tồn thiên nhiên và 5 vườn quốc gia và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và khu bảo tồn và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được (Võ Quý, 1997) [7]. Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 1980.
Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các hoạt động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định. Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các khu bảo tồn và vườn quốc gia khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của cộng đồng địa phương. Ở Vườn quốc gia Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với vườn quốc gia một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của vườn quốc gia và được tham gia quản lý vườn quốc gia thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền (Võ Quý, 1997) [7], (Hoàng Hoè, 1995) [1].
Ở Thái lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%, nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26%.000 km2 rừng bị tàn phá. Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái lan (The Royal Forest Department) thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện tích rừng còn lại. Điều này dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương sống trong vùng đệm. Một thử nghiệm của Dự án “ Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” (Sustainable Forest Management through Collaborative efforts’ Project) thực hiện tại Phu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông- Bắc Thái lan.