Đặt vấn đề “Canh tác có bảo vệ” (Protected cultivation) được phát triển từ lâu trên thế giới. Nó được xem là một giải pháp sản xuất hiệu quả được thực hiện ở nhiều nước, đặc biệt là những nước có khí hậu khắc nghiệt như sương giá, khô hạn v. Ở Việt Nam, “ngành làm vườn có bảo vệ” chỉ mới được phát triển trong những năm gần đây. Cùng với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã phát triển rau trồng trong nhà lưới từ năm 1996.
Bước đầu nhà lưới trồng rau đã mang lại những hiệu quả đáng kế trong sản xuất rau như: Chủ động được mùa vụ (nhất là rau ăn 1a), tang chất lượng, mẫu mã, độ an toàn của rau, giảm chi phí lao động, thuốc bảo vệ thực vật, tăng thu nhập cho nông dân, tạo sự tin cậy cho nhà thu mua (Sở Nông nghiệp và PTNT TP. Hồ Chí Minh, 2005). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mô hình nhà lưới còn nhiều mặt hạn chế như: Trong nhà lưới kin có nhiệt độ cao hơn so với bên ngoài nên một số chủng loại rau dé nhiễm bệnh, chưa có mẫu thiết kế cho nhà lưới hợp lý, chưa xác định được các thông số, như loại lưới, kích cỡ mắt lưới, màu lưới, chiều cao nhà lưới, chưa xác định chủng loại rau thích hợp trồng trong nhà lưới v. Nhằm đánh giá và định hướng cho việc phát triển nhà lưới trồng rau ở ngoại thành Thành phố Hồ Chi Minh, đồng thời xác định yếu tố môi trường bên trong nhà lưới có tác động đến sinh trưởng, năng suất và chủng loại rau ăn lá trên một số mô hình nhà lưới hiện hữu.
Từ đó có những khuyến cáo cụ thé về chủng loại rau ăn lá phù hợp và một số thông số kỹ thuật trong thiết kế nhà lưới trồng rau, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sự sinh trưởng một số loại rau ăn lá trồng phố biến trong một số kiểu nhà lưới tại Thành phố Hồ Chí Minh”.2 Mục tiêu - Tìm hiểu hiện trạng canh tác rau nhà lưới tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Xác định yếu tố khí hậu bên trong nhà lưới có tác động đến sinh trưởng một số chủng loại rau ăn lá trồng trong một số kiểu nhà lưới hiện hữu. - Xác định chủng loại rau ăn lá phù hợp cho một số kiểu nhà lưới hiện hữu. - Đề nghị một số thông số kỹ thuật về nhà lưới trồng rau ăn lá.3 Giới hạn đề tài Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi nhà lưới trồng rau ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Do hạn hẹp về thời gian, phương tiện và kinh phí, đề tài chỉ tập trung theo dõi một số chỉ tiêu về khí hậu như nhiệt độ, âm độ và ánh sáng và thực hiện các thí nghiệm ở Ap Đình — xã Tân Phú Trung - huyện Cu Chi. Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về canh tác có bảo vệ “Canh tác có bảo vệ” (Protected cultivation) là một thuật ngữ dé chỉ những phương pháp trồng cây trong nhà bằng kính (glasshouse), nhà bằng lưới (net house), nhà plastic (plastic house), sử dụng màng phủ nông nghiệp (mulching), v.; “ngành làm vườn trong nhà kính” (protected horticulture), “øreen house” là một trong những kiểu canh tác có bảo vệ đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới (Hideo, 1995). Thuận lợi của trồng cây trong nhà kính so với trồng ngoài đồng là: - Cung cấp cho cây trồng điều kiện môi trường thích hợp cho sự sinh trưởng và kiêm soát được sự sinh trưởng của chúng; - Bảo vệ cây trồng tránh được những điều kiện bất lợi của môi trường như nhiệt độ cao hoặc thấp, cây trồng có thể phát triển được trên những vùng đất khó khăn như nhiễm mặn, nghèo dinh dưỡng, tránh được dịch hại; - Có thé tăng vụ, kéo dai thời gian thu hoach; - Tăng năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm; - Giúp nông dân sản xuât ôn định hơn do chủ động được mùa vụ và tăng thu nhập. Bắt lợi chính của canh tác trong nhà kính là : - Nhiệt độ, âm độ trong nhà kính cao hơn bên ngoài ảnh hưởng không tốt đến cây trồng và gia tăng một số dịch hại; cũng như những nguy cơ về vẫn đề dinh dưỡng cây trồng.
- Cần có những kỹ năng để quản lý tốt cây trồng và có chi phí cao (Sophie, 2006; AVRDC, 1990). Thời gian đầu nhà kính chỉ sử dụng giới hạn ở vùng ôn đới, chủ yếu dé sản xuất rau trong những tháng mùa đông, mùa xuân sớm và mùa thu muộn. Vì vậy, sản xuất trong nhà kính trở thành một hệ thống canh tác đặc trưng riêng ở những nước có khí hậu lạnh. Ở những nước nhiệt đới, nhìn chung mùa đông có khí hậu phù hợp cho sinh trưởng va phát trién của nhiều lọai rau, nhưng cũng có những mùa vụ sản xuất có những điều kiện bắt lợi cho cây trồng như mưa khiến cho năng suất và mẫu mã rau sản xuất trong điều kiện bình thường không đạt yêu cầu.
Vì thế, cần phải trồng trong điều kiện có bảo vệ. Tuy nhiên, do khí hậu vùng nhiệt đới khác với vùng ôn đới nên sản xuất trong nhà kính ở vùng nhiệt đới cũng có những yếu tố bất lợi như nhiệt độ cao lên đến 40°C (Manuel, AVRCD). Đây cũng là hạn chế chính cho phát triển nhà kính ở vùng nhiệt đới. Trong những năm gần đây với những cải thiện trong thiết kế, nhà kính hiện nay có thé sử dụng được ca trong những vùng khí hậu ấm, vùng đồng bằng (AVRDC, 1990).
Những nhà kính công nghệ cao có thể kiểm soát cả môi trường bên trong nhà kính theo yêu cầu sinh lý của từng loại cây trồng. Các loại cây trồng pho biến trong nhà kính hiện nay chủ yếu là rau, kế dén là hoa cảnh va một sô cây ăn quả như dau, dưa melon v.2 Giới thiệu nhà kính 2.1 Lịch sử và sự phát triển của nhà kính Nhà kính đầu tiên ở vườn thực vật ở trường Dai hoc Pisa vào năm 1591 dé trồng cam, được gọi là vườn cam “Orangeries”, mái được lợp bang ngói toàn bộ hoặc từng phần trong suốt mùa lạnh. Năm 1664, Evelyn xây dựng một nhà kính có tên gọi là “conservatory” để trồng những cây nhạy cảm trong mùa đông, nhà kính được sưởi âm bằng lò sưởi. Tiếp sau đó nhiều những nhà kính được xây dựng ở vườn thực vật Oxford (1675), Ham House (1677), vườn Chelsea Physic (1684), Powys Castle (1685), Hampton Court (1690), Kew (1757).
Tuy nhiên những nhà kính này đều có nhược điểm cho ánh sáng đi qua rất ít do vách nhà phần lớn làm bằng đá. Năm 1737, phát minh về bột đánh bóng kính và công nghệ làm kính cải tiến cho phép dựng nên nhà kính cho ánh sáng đi qua tốt hơn. Vào cuối thế kỷ 18, những khung sườn đúc sẵn bang sat đã xuất hiện, năm 1832, nhà làm bằng kính lớn (big glass — making) sản xuất ở Pháp và nhập khâu vào Anh do Chance Bros ở Birmingham đã tạo ra những đột phá về nhà kính. Năm 1806, Tod và Banks thiết kế kiểu nhà kính 2 mái.
Thế kỷ 19, nghiên cứu nổi bật đầu tiên về sự truyền ánh sáng của những sinh viên Mackenzie vào năm 1815 và kế đó là nghiên cứu về khung nha của Loudon và Paxton. Joseph xây dựng một Palmhouse nổi tiếng thế giới ở Vườn Kew vào nam 1842, nhà kính này dài 110 m, rộng 30 m, cao hơn 20 m. Những năm 1800 ngành làm vườn ở Mỹ đã trưởng thành, giai đoạn 1800 - 1915 là thời đại của nhà kính trồng cây, những khu vườn mùa đông và những palm house, nơi này là sân chơi của người giàu có và nổi tiếng. Khoa học và giáo dục cũng góp phần vào sự phát triển của nhà kính, những khu vườn thực vật dé nghiên cứu vùng nhiệt đới — Palm house ở Kew (1948), nhà kính Haupt ở NYBG (1902).
Những khu vườn thực vật thu hút du khách là ý tưởng đâu tiên ở Berlin, sau đó lan rộng khắp nơi. Nhà kính đầu tiên sử dụng vào mục đích thương mại là của Hackney vào năm 1827, là nhà kính bằng kim loại có mái cong. Trong cùng thời gian này, nhà kính cũng rất phát triển ở Bac Mỹ, Anh, Pháp và Bi, tiếp theo là Hà Lan vào đầu những năm 1900. Năm 1940, những nước dẫn đầu về sản phẩm cây trồng trong nhà kính là Hà Lan, Anh và Bắc Mỹ, đáng kế nhất là Đức, Scandinavia và Bi.
Khởi đầu cây trồng chính là cây ăn trái, đặc biệt là nho. Cà chua được bắt đầu trồng vào năm 1880 và trở thành cây trồng quan trọng vào đầu thế kỷ 20. Những loại hoa được thương mại hoá sản xuất trong nhà kính là hoa hồng, cúc va cam chướng. Do nhu cau sản xuất lớn, nhà kính liên kế (multi span) đã phát triển rất mạnh.
Sau thế giới thứ hai, có những chuyền biến về vật liệu làm khung nhà kính. Sau năm 1950, khung nhà kính phần lớn làm bằng nhôm và thép mạ kẽm, vật liệu nhôm cho phép kéo dai mái nhà kính hơn 75 inch. Chính công nghệ này đã thúc đây mạnh sự phát triển của nhà kính, trong đó Hà Lan là nước dẫn đầu. Từ những năm đầu 1960, sự xuất hiện màng phim plastic tạo sự chuyền biến mạnh mẽ, phải nói chính xác là cuộc cách mạng làm thay đổi cả thế giới.
Emery được xem là “cha đẻ của nhà kính bằng plastic”, ông cũng là người tiên phong trong việc giới thiệu màng phủ nông nghiệp (plastic mulches). Nhà kính đầu tiên trên thế giới bang plastic xuất hiện ở trường Đại học Kentucky (Mỹ) vào năm 1948 (AVRDC, 1990) do Emery thiết kế. Ké từ đó đến nay, “cánh đồng nhà kính” trồng rau phát trién mạnh trên khắp thế giới với tên gọi chung là “high tunnel”. Ngày nay, nhà kính dạng này đã sản xuất ra khối lượng thực phẩm khong 16 ở nhiều nơi trên thé giới.
Năm 1993, “high tunnel” va nhà kính plastic đã vượt qua diện tích 21 tỉ feet vuông (hơn 195. Trong đó, Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc chiếm 50 % diện tích trồng nhiều loại rau như dưa leo, cà chua, ớt, hành,.đâu tây và hoa cắt cành. Đến năm 1995, diện tích nhà kính trên thé giới là 306.500 ha, trong đó có đến 265.800 ha nha plastic (chiếm 86,72 %), Châu Á chiếm hơn 50 % diện tích nhà kính của thế giới.2 Các kiểu nhà kính Có nhiều kiểu nhà kính với nhiều kiểu thiết kế, vật liệu che phủ khác nhau v., chủ yếu tùy vào điều kiện khí hậu và địa điểm đặt nhà kính. Có hai loại nhà kính cơ bản là nhà plastic - kiểu đơn hoặc các nhà liên kế (polyhouse) và kiểu nhà kính truyền thống làm bằng kiếng (glasshouse), mỗi kiêu nhà có những thuận lợi và khó khăn riêng.