CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG 1. LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ 1. Khái niệm Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về dịch vụ. Nhìn chung người ta định nghĩa dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml, V.
Theo Philip Kotler, dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Đặc tính của dịch vụ Hiện nay, có 04 đặc điểm chính mang một số đặc thù hay tính chất mà nhờ đó chúng ta có thể phân biệt dịch vụ với các loại hàng hoá hữu hình khác cụ thể: (Fitzsimons, 2001) - Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Thực tế là các dịch vụ được tiêu thụ cùng một lúc khi chúng được tạo ra và các dịch vụ không thể được lưu trữ là một tính năng cơ bản trong quản lý dịch vụ. Một sản phẩm có thể được kiểm tra trước khi giao hàng, nhưng dịch vụ nên được đánh giá theo những cách khác nhau để được đảm bảo về chất lượng.
- Tính không lưu trữ được: Đối với các loại hàng hóa thông thường như xe máy, mỹ phẩm, đồ gia dụng, nếu không bán hàng vào hôm nay, nhà cung cấp có thể lưu kho và bán sau đó. Tuy nhiên đối với dịch vụ, nhà cung ứng dịch vụ không thể để dành thời gian hôm nay sang ngày mai làm hoặc Luan van 9 đem thời gian rảnh rỗi hôm nay để dành để phục vụ khách hàng khi vào mùa cao điểm. Do đó đối với loại hình dịch vụ, cần có sự chuẩn bị chu đáo để đảm bảo phục vụ khách hàng ngay khi cần thiết tránh tình trạng chất lượng dịch vụ bị giảm sút do việc phục vụ không kịp thời. - Tính vô hình: Dịch vụ là những niềm tin, những khái niệm và hàng hóa là một chủ thể.
Do đó, người ta không thể duy trì quyền sở hữu đạo đức cho các đổi mới trong dịch vụ, bằng sáng chế và quyền đăng ký đối với sáng tạo. Khi mua một sản phẩm, khách hàng có thể nhìn thấy nó, chạm vào nó và kiểm tra các chức năng của nó trước khi mua. Tuy nhiên, trong trường hợp của một dịch vụ, khách hàng nên dựa vào danh tiếng của các công ty cung cấp dịch vụ mà khách hàng hài lòng và tín nhiệm. - Tính không đồng nhất: Các dịch vụ thường không có chất lượng đồng nhất do có sự khác biệt về người phục vụ, cung ứng cho ai, thời gian phục vụ khi nào, ở đâu và thời gian cung ứng trong bao lâu.
Tính không đồng nhất thường dẫn đến sự bất ổn về chất lượng và sự so sánh giữa các nhóm khách hàng khác nhau trong những thời điểm khác nhau. Dịch vụ cho vay tiêu dùng a. Khái niệm Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại và yêu cầu quản lý, cho vay có thể chia thành nhiều loại khác nhau như cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay tài trợ xuất….
Dịch vụ cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong Luan van 10 cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. Đặc điểm của dịch vụ cho vay tiêu dùng Ngoài những đặc tính chung của dịch vụ cho vay thì cho vay tiêu dùng có một số đặc điểm riêng như sau: - Đối tượng cho vay: Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình - Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. - Về lãi suất: do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại.
- Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, không nhất thiết phải là từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó. - Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định và có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng thương mại quyết định cho vay 1. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm Theo Parasuraman, Zeithaml và Bery (1985) chất lượng dịch vụ xuất phát từ sự so sánh giữa những kỳ vọng khách hàng mong muốn nhận được với cái mà họ thực nhận được thông qua dịch vụ, sản phẩm mà công ty cung cấp [9].
Theo TCVN 5200-ISO 9000, thì chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua. Chất lượng dịch vụ tạo nên sự trừu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc tính riêng của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Theo Crosby (1979); Gravin (1983) thì chất lượng hàng hóa được đo lường thông qua độ bền (durability) và số lỗi của sản phẩm (number of defects) [17], [21]. Ngược lại, để đo lường và đánh giá chất lượng dịch vụ, hiện nay có rất nhiều nghiên cứu khác nhau xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, trong đó phổ biến nhất là nghiên cứu của Parasuraman và các cộng sự.
Năm 1985, Parasuraman và các đồng sự đã đưa ra mười nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ được liệt kê dưới đây [9]: - Tin cậy (reliability) - Đáp ứng (Responsiveness) - Năng lực phục vụ (Competence) - Tiếp cận (access) - Lịch sự (Courtesy) - Thông tin (Communication) - Tín nhiệm (Credibility) - An toàn (Security) - Hiểu biết khách hàng (Understanding customer) Luan van 12 - Phương tiện hữu hình (Tangibles) Mô hình này có ưu điểm bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên rất khó khăn trong việc đánh giá, phân tích và đo lường mô hình. Năm 1988, Parasuraman đã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình mới gồm năm thành phần, cụ thể: - Tin cậy (Reliability) - Đáp ứng (Responsiveness) - Phương tiện hữu hình (Tangibles) - Sự đảm bảo (Assurance) - Cảm thông (Empathy) Năm 1990, Gronroos đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra sáu nhân tố đo lường chất lượng dịch vụ như sau [23]: - Có tính chuyên nghiệp (professionalism and skills) - Có phong cách phục vụ ân cần (attitudes and behaviour) - Có tính thuận tiện (accessibility and flexibility) - Có sự tin cậy (reliability and trustworthiness) - Có sự tín nhiệm (reputation and credibility) - Có khả năng giải quyết khiếu kiện (recovery) Các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ rất đa dạng, được xác định khác nhau tùy thuộc vào từng ngành dịch vụ cần nghiên cứu. Vì vậy, đối với mỗi ngành dịch vụ khác nhau thì cần thực hiện những nghiên cứu riêng phù hợp với từng ngành cụ thể. Đo lường chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một tiêu chí rất được các nhà quản trị quan tâm để đảm bảo sự hài lòng của khách hàng cả bên trong và bên ngoài.
Điều đó dẫn đến việc tăng thêm tính cạnh tranh, tính hiệu quả và tính linh hoạt của toàn công ty. Luan van 13 Chất lượng dịch vụ cao không những phản ánh một vị thế cạnh tranh trong thị trường mà cho thấy hiệu quả hoạt động của đơn vị. Chất lượng là một số hạng phức tạp được tạo nên từ một số nhân tố và tiêu chuẩn khác nhau. Tất cả các nhân tố chất lượng hoặc tiêu chuẩn đều đóng vai trò quan trọng để đạt được chất lượng tuyệt đối.
Nếu chỉ một nhân tố chất lượng bị lỗi thì toàn bộ chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ không thể đạt được. Hai phương pháp tiếp cận cơ bản về chất lượng dịch vụ đã được xác định vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Phương pháp tiếp cận đầu tiên dựa trên mô hình 2 biến số Nordic (Gronroos, 1984) coi chất lượng dịch vụ bao gồm chất lượng kỹ thuật và chức năng trong đó chất lượng kỹ thuật đề cập đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng cho biết chúng được phục vụ như thế nào Cách tiếp cận thứ hai là định hướng người tiêu dùng. Các mong đợi (kỳ vọng) là cơ sở cho sự hài lòng.
Sau khi sử dụng dịch vụ, họ so sánh những kỳ vọng của họ trước đó với các trải nghiệm. Các kết quả có thể sắp xếp từ hài lòng cho đến không hài lòng. Các phương pháp để đo lường chất lượng dịch vụ như thế nào để giúp những người thực hiện, quản lý hiệu quả việc cung cấp chất lượng dịch vụ đã trở thành trọng tâm của các nhà nghiên cứu. Trong số các mô hình/cấu trúc thang đo khác nhau về chất lượng dịch vụ trong các tài liệu hiện có, mô hình SERVQUAL và SERVPERF của Parasuraman, Cronin, Taylor và các nhà nghiên cứu khác trên thế giới đang trở nên khá phổ biến.
Thang đo SERVQUAL Thang đo SERVQUAL là công cụ đo lường chất lượng dịch vụ được Parasuraman công bố năm 1985, đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận của khách hàng sử dụng dịch vụ trên cơ sở nghiên cứu khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng, bán lẻ, ô tô… SERVQUAL được xây dựng dựa Luan van 14 trên quan điểm chất lượng dịch vụ là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng/ mong đợi và các giá trị khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ = Sự cảm nhận - Sự kỳ vọng SERVQUAL xem xét hai khía cạnh chủ yếu của chất lượng dịch vụ là kết quả dịch vụ (outcome) và cung cấp dịch vụ (process) được nghiên cứu thông qua 22 thang đo của năm tiêu chí: sự tin cậy (reliability), khả năng đáp ứng (responsiveness), sự hữu hình (tangibles), sự đảm bảo (assurance), và sự cảm thông (empathy).