CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng, đây là khái niệm được sự chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất.
Còn theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Bản chất của dịch vụ Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể thay đổi trong phạm vi của sản phẩm vật chất. Quá trình hoạt động của dịch vụ diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau.
Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Tính chất của dịch vụ Dịch vụ có 4 tính chất dưới đây: - Tính vô hình (intangibility): một dịch vụ thuần túy không thể được đánh giá bằng cách sử dụng bất kỳ giác quan cơ thể nào trước khi nó được Luan van 8 mua. Vì vậy, để giảm sự không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lượng dịch vụ từ những đối tượng họ tiếp xúc, trang thiết bị,… mà họ thấy được. - Tính không thể tách rời (inseparability): đặc thù của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời cùng một lúc.
Nếu một người nào đó thuê dịch vụ thì bên cung cấp dịch vụ sẽ là một phần của dịch vụ, cho dù bên cung cấp dịch vụ là con người thật hay máy móc. Bởi vì khách hàng sẽ có mặt lúc dịch vụ được cung cấp nên sự tương tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hàng là một đặc tính đặc biệt của marketing dịch vụ. - Tính hay thay đổi (variability): thể hiện ở đặc điểm chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ, thời gian, địa điểm và cách thức dịch vụ được cung cấp. - Tính dễ bị phá vỡ (perishability): dịch vụ khác với các hàng hóa thông thường ở chỗ không thể cất giữ được.
Dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hoá thông thường trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu. Khi nhu cầu thay đổi thì các công ty dịch vụ thường gặp khó khăn, chính vì vậy các công ty dịch vụ luôn phải tìm cách để làm cung và cầu phù hợp nhau. Chất lượng dịch vụ a. Khái niệm chất lượng dịch vụ Khác với chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường bởi các tiêu chí khách quan như tính năng, đặc tính và độ bền thì chất lượng dịch vụ là vô hình.
Do đó, tài liệu xác định chất lượng dịch vụ dựa theo chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết. Theo Zeithaml (1987) thì “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được”. Như vậy, chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của Luan van 9 khách hàng về những tiện ích và dịch vụ sẽ mang lại cho họ và cảm nhận của khách hàng về kết quả có được sau khi đã sử dụng dịch đó.
Dịch vụ ngân hàng là một sản phẩm vô hình, phi vật chất hoặc thực hiện công việc mà không đưa đến quyền sở hữu vật chất nào đó. Do đó, theo các chuyên gia, chất lượng dịch vụ ngân hàng có liên quan đến quá trình ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng. Như vậy, chất lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc đáng kể vào quá trình so sánh chất lượng dịch vụ ngân hàng mong đợi bởi khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ và nhận thức trực tiếp chất lượng dịch vụ tại thời điểm sử dụng và sau khi sử dụng nó. Mong đợi của khách hàng với chất lượng tương ứng có thể được khẳng định hoặc không được khẳng định.
Nếu không được khẳng định sẽ dẫn đến việc ra đi của khách hàng đến các đối thủ cạnh tranh và cần phải tốn nhiều chi phí cho hoạt động marketing trong ngân hàng để thu hút khách hàng mới thay cho số khách hàng cũ đã mất. Theo nghiên cứu, thì chi phí để thu hút một khách hàng mới tốn kém gấp 5 lần so với việc giữ chân một khách hàng cũ. Sự xác nhận mong đợi sẽ dẫn đến sự trung thành lâu dài của khách hàng, và đôi khi được gọi là marketing quan hệ. Marketing quan hệ đảm bảo thành công lâu dài của ngân hàng nhờ lợi nhuận ổn định, trên cơ sở lòng trung thành của khách hàng và nhờ cắt giảm chi phí hoạt động marketing để thu hút khách hàng mới.
Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi nhiều yếu tố và việc nhận định chính xác các yếu tố này phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhưng phổ biến nhất và biết đến nhiều nhất là các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman và các đồng sự. Năm 1985, Parasuraman và các đồng sự đã đưa ra mười nhân tố quyết Luan van 10 định chất lượng dịch vụ được liệt kê dưới đây: 1- Khả năng tiếp cận (access) 2- Chất lượng thông tin liên lạc (communication) 3- Năng lực chuyên môn (competence) 4- Phong cách phục vụ (courtesy) 5- Tôn trọng khách hàng (credibility) 6- Đáng tin cậy (reliability) 7- Hiệu quả phục vụ (responsiveness) 8- Tính an toàn (security) 9- Tính hữu hình (tangibles) 10- Am hiểu khách hàng (understanding the customer) Và đến năm 1988, ông đã khái quát hoá thành 5 nhân tố cụ thể như sau: 1- Sự tin cậy (reliability) 2- Hiệu quả phục vụ (responsiveness) 3- Sự hữu hình (tangibles) 4- Sự đảm bảo (assurance) 5- Sự cảm thông (empathy) Chất lượng dịch vụ cảm nhận Sự hữu Sự tin Sự đáp Sự đảm Sự cảm hình tưởng ứng bảo thông X1 X2 X3 X4 X5 X6 X7 X8 X9 X10 X11 X12 X14 X15 X16 X17 X18 X19 X20 X21X22 X Hình 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasurama, Zeithaml và Berry (1988) Luan van 11 Năm 1990, Gronroos đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra sáu nhân tố đo lường chất lượng dịch vụ như sau: 1- Có tính chuyên nghiệp (professionalism and skills) 2- Có phong cách phục vụ ân cần (attitudes and behaviour) 3- Có tính thuận tiện (accessibility and flexibility) 4- Có sự tin cậy (reliability and trustworthiness) 5- Có sự tín nhiệm (reputation and credibility) 6- Có khả năng giải quyết khiếu kiện (recovery) Đến năm 2001, Sureshchandar et al cũng đưa ra năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bao gồm: 1- Yếu tố dịch vụ cốt lõi (core service) 2- Yếu tố con người (human element) 3- Yếu tố kỹ thuật (non-human element) 4- Yếu tố hữu hình (tangibles) 5- Yếu tố cộng đồng (social responsibility) Các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ rất đa dạng, được xác định khác nhau tùy thuộc vào từng ngành dịch vụ cần nghiên cứu. Vì vậy, đối với mỗi ngành dịch vụ khác nhau thì cần thực hiện những nghiên cứu riêng phù hợp với từng ngành cụ thể.
Sự hài lòng của khách hàng a. Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Có nhiều khái niệm về sự hài lòng của khách hàng, cụ thể như: - Theo Oliver (1997): sự hài lòng của khách hàng là sự phản hồi của người tiêu dùng, là những nhận xét về các đặc tính của sản phẩm, dịch vụ hay chính bản thân sản phẩm, dịch vụ này. Các phản ứng này sẽ cho thấy các mức độ hài lòng khác nhau khi họ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. - Theo Zeithaml & Bitner (2003): sự hài lòng là quá trình nhận xét, Luan van 12 đánh giá của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ mà sản phẩm hay dịch vụ này có đáp ứng được các nhu cầu và sự kỳ vọng của họ hay không.
- Theo Phillip Kotler & Amstrong (2004): sự hài lòng của khách hàng về một cuộc mua tuỳ thuộc vào công năng của sản phẩm so với những gì người mua đang kỳ vọng. Người tiêu thụ có thể mang những cấp độ hài lòng khác nhau. Nếu công năng của sản phẩm yếu hơn so với kỳ vọng, khách hàng sẽ bất mãn. Nếu công năng của sản phẩm khớp với các kỳ vọng, khách hàng đó sẽ hài lòng.
Nếu công năng còn cao hơn cả kỳ vọng, khách hàng sẽ hết sức hài lòng và vui mừng. Như vậy, sự hài lòng của khách hàng là việc đo lường mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Yavas et al, 1997; Ahmad và Kamal, 2002). Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng.
Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau (positive relationship), trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố này, Spreng và Mackoy (1996) cũng chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng.
Luan van 13 Hình 1.2: Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng (Spreng và Mackoy, 1996) c.