Chương 1 tập trung phân tích tổng quan về tái sử dụng phế thải nhựa làm phụ gia tăng cường đặc tính cơ học của bê tông asphalt trên thế giới để đề xuất định hướng nghiên cứu ở Việt Nam.1 Phụ gia cho bê tông asphalt 1.1 Các loại phụ gia cho bê tông asphalf Các thuật ngữ "phụ gia- additive " và "cải thiện- modifier" chỉ các chất phụ gia, bao gồm bất kỳ vật liệu nào được thêm vào nhựa đường, hoặc hỗn hợp đá-nhựa. Phụ gia có mục đích cải thiện đặc tính khai thác và tuổi thọ của mặt đường hoặc vật liệu bảo trì bằng cách cải thiện các tính chất của nhựa đường hoặc hỗn hợp đá-nhựa nóng, hoặc cả hai [76]. Có nhiều loại phụ gia cho bê tông asphalt được sử đụng với các mục đích khác nhau: - Phụ gia chống lại biến dang khéng héi phuc (Anti-Rutting, Permanent deformation) làm tăng cường độ kháng cắt của hỗn hợp. —_ Phụ gia chống nứt (Anti-Cracking): Chống nứt mỏi dưới tác đụng của tải trọng, chống nứt ở nhiệt độ thấp, nứt mỏi nhiệt.
—_ Phụ gia tăng đính bám nhựa bitum với cốt liệu (Anti-Stripping): Chống lại tác động của nước làm mắt liên kết đá-nhựa. — Phụ gia chống ô xi hóa (Antioxidants). —_ Ngoài ra còn có các loại phụ gia với các tác dụng như chống chảy nhựa, giảm độ nhớt của nhựa trong quá trình sản xuất, thi công bê tông asphalt,. Có 2 công nghệ thường sử dụng để trộn phụ gia cho bê tông asphalt là công nghệ trộn ướt (Wet Process) và công nghệ trộn khô (Dry Process).
7 — Công nghệ trộn ướt: Phụ gia được định lượng sau đó trộn với nhựa ở nhiệt độ cao và tốc độ khuấy trộn lớn. Có thể trộn tại nhà máy để tạo thành các loại nhựa cải tiến hoặc nhựa polymer. Có thể trộn ngay tại trạm bê tông asphalt bằng các thiết bị lắp đặt thêm. Công nghệ này có hiệu quả sử dụng phụ gia cao, chất lượng đồng đều.
Tuy nhiên giá thành cao hơn vì phải sử đụng thêm nhiệt và công khuấy trộn. Mặt khác vì trộn vào trong nhựa nên thời gian sử dụng của nhựa cải tiến sẽ bị hạn chế, cần phải có những trạm tồn chứa, nhựa cải tiến dễ bị phân tầng, phụ gia noi lên bề mặt; — Công nghệ trộn khô: Phụ gia được định lượng ngay tại trạm trộn sau đó được trộn với cốt liệu đã được rang nóng và hỗn hợp phụ gia-cốt liệu tiếp tục được trộn với nhựa đường. Theo công nghệ này thì phụ gia nóng chảy sẽ bao bọc cốt liệu làm tăng khả năng liên kết đá-nhựa. Một phần nhỏ phụ gia sẽ tác đụng với nhựa đường thành nhựa cải tiễn và 1 phần sẽ đóng vai trò như cốt liệu.
Ưu điểm của công nghệ này là đơn giản, linh hoạt, không đòi hỏi thiết bị đất tiền, giá thành rẻ, có thể sử dụng với khối lượng không lớn khi sửa chữa mặt đường, không phải tồn chứa. Tuy nhiên công nghệ này có nhược điểm là chất lượng khó đồng đều, khó phát huy hết tác dụng của phụ gia.2 Sử dụng phụ gia cho bê tong asphalt 6 Viét Nam Việc sử dụng phụ gia tăng dính bám đá-nhựa (còn gọi là phụ gia kháng bong tách) cho BTN khi cốt liệu có độ dính bám kém là một trong những giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu nguy cơ hư hỏng mặt đường BTN do tác động của nước. Hiện nay ở Việt Nam đang phổ biến sử dụng các loại phụ gia tăng dính bám đá-nhựa là ToughFix, ToughFix Hyper, WetfixBE,.cho kết quả tốt. Công nghệ bê tông nhựa polymer đã được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006 bằng tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa polymer 22TCN 356-06.
Nhựa polymer là nhựa thường được trộn thêm các loại phụ gia tại nhà máy. BTN polymer có các đặc tính cơ học như chống biến dạng không hồi phục, chống nứt, tăng dính bám tốt nên được áp đụng ở những đường chịu tải trọng nặng. Công nghệ bê tông nhựa epoxy dùng phụ gia epoxy cũng được Trần Thị Cẩm Hà — Trường Đại học GTVT nghiên cứu áp dụng. Bê tông nhựa epoxy có những ưu điểm có khả năng chống lún vệt bánh xe và chống mỏi tốt là lựa chọn hàng đầu cho các lớp mặt đường cấp cao chịu tải trọng nặng ở Việt Nam.
§ Có nhiều loại phụ gia cải tiến nhựa để nâng cao khả năng chống lún vệt bánh xe của BTN đang được sử dụng ở Việt Nam như SBS, SBR, TPP, PRPlast,. trong đó phổ biến và kinh tế nhất là phụ gia SBS (STYRENE-BUTADIENE -STYRENE). Đề quá trình polymer hóa nhựa đường bằng phụ gia SBS có các cách như trộn trong nhà máy, trộn với nhựa tại trạm và trộn với cốt liệu khi sản xuất BTN tại trạm trộn. Phân tích về kinh tế - kỹ thuật phù hợp với điều kiện thiết bị và công nghệ hiện có ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu Trường Đại học GTVT phát triên phương pháp trộn khô SBS tại trạm khi sản xuất BTN.
Phương pháp này đã được áp đụng cho kết quả tốt tại một số dự án và đã được Bộ GTVT cho phép biên soạn thành tiêu chuẩn kỹ thuật tạm thời thiết kế, thi công và nghiệm thu BTN chặt thông thường có sử đụng phụ gia SBS trộn với cốt liệu nóng tại trạm trộn sử dụng cho các dự án [9]. Thiết bị định lượng và phun phụ gia theo phương pháp trộn khô của Trường Đại học GTVT phát triển có thê nói là hướng mới trong việc sử dụng các thiết bị đơn giản nhưng hiệu quả để đưa phụ gia trong quá trình sản xuất bê tông asphalt mà phụ gia phế thải nhựa là một hướng khả thi, có ý nghĩa kinh tế, xã hội cũng như đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật của bê tông asphalt. Cho đến nay đã có hàng trăm kilomet mặt đường bê tông asphalt sử dụng công nghệ trộn khô phụ gia SBS tại trạm được thi công và chất lượng khai thác tốt. Các loại phụ gia tro bay, cao su sử dụng cho bê tông asphalt được PGS.TS Phạm Hữu Hanh — Trường Đại học Xây dựng nghiên cứu cho kết quả tốt.
Nghiên cứu sử đụng phụ gia lưu huỳnh trong bê tông asphalt cũng được các tác giả ở Trường Đại học GTVT PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, NCS Nguyễn Thu Trang thực hiện, kết quả nghiên cứu góp phần giảm tác động đến môi trường, tiết kiệm tài nguyên. Vũ Phương Thảo - Trường Đại học GTVT và các kỹ sư Đà Nẵng cũng đã nghiên cứu sử đụng sợi thủy tỉnh tăng cường đặc tính cơ học và khả năng chống kéo của bê tông asphalt. Ngoài ra các loại phụ gia chống chảy nhựa dạng sợi Cellulose, sợi phân tán, phụ gia giảm độ nhớt của nhựa cũng đã được sử dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ với các loại phụ gia thành phâm, chưa có nghiên cứu toàn điện về bê tông asphalt sử dụng phụ gia phế thải nhựa.2 Các loại phế thải nhựa Nhựa có trong rác thải và rác thải có ở khắp mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn gây những tác hại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái (Hình 1.
Những tái chế nhựa sử đụng trong sinh hoạt hàng ngày là nguồn gây bệnh cho con người. a) Rác sinh hoạt b) Rác y tế sau xử lý Hình 1. 1: Rác thải chứa phế thải nhựa Polyethylene (PE) là nhóm nhựa phổ biến nhất sử dụng trong sinh hoạt và công nghiệp. PE là một hợp chất hữu cơ (poly) gồm nhiều nhóm etylen CH›-CH;: liên kết với nhau bằng các liên kết hydro nội phân tử.
PE màu trắng, hơi trong, không dẫn điện và không dẫn nhiệt, không cho nước và khí thấm qua. Ở nhiệt độ cao hơn 70°C PE hoa tan kém trong các dung môi như toluen, xilen, amilacetat, tricloetylen, dau thông, dầu khoáng. Dù ở nhiệt độ cao, PE cũng không thể hòa tan trong nước, trong các loại rượu béo, aceton, ête etylic, glicerin và các loại dâu thảo mộc. Dựa vào khối lượng phân tử, tỷ trọng, độ kết tinh và mức độ khâu mach ma PE duoc chia thành tám loại: VLDPE (PE tỷ trọng rất thấp); LDPE (PE tỷ trọng thấp - Low Density Polyethylene)); LLDPE (PE tỷ trọng thấp mạch thăng); MDPE (PE tỷ trọng trung bình); HDPE (PE tỷ trọng cao - High Density Polyethylene); UHMWPE (PE có khối lượng phân tử cực cao); PEX hay XLPE (PE khau mach); HDXLPE (PE khau mạch tỷ trọng cao).
Hai loại LDPE và HDPE sử dụng phổ biến nhất trong sinh hoạt, và công nghiệp. Hàng năm trên thế giới tiêu thụ trên 60 triệu tấn PE làm bọc đây điện, bọc hàng, bao gói sinh hoạt, làm màng mỏng che mưa, chai lọ, chế tạo thiết bị trong ngành sản xuất hóa học. Có 6 loại nhựa sử đụng trong cuộc sống hàng ngày là: LDPE làm túi nylon, bao gói; HDPE dùng làm túi nylon, bao gói, chai đựng; PET (Polyethylene Teryphthalate) làm chai đựng nước; PP — (Polypropylene) lam nap day; PS (Polystyrene); PVC (Polyvinyl Chloride) lam dé gia dung. Nhimg san pham làm từ nhựa này sau khi sử dụng sẽ thải ra môi trường mà phải rất lâu, đến vài trăm năm mới phân hủy hết và phát tán vào môi trường đất và nước.
MABE 10 GS ES Es “4A “` A P > PS OTHER>< a) Các ký hiệu nhựa trên đồ gia dụng b) Hạt nhựa LDPE sản xuất túi nylon Hình 1. 2: Nhựa gia dụng Các loại đồ nhựa gia dụng và ký hiệu như Hình 1.2 a) Số 1: là PET - nhựa polyethylene terephthalate. Các chai nhựa đựng đồ uống khi tái sử dụng nếu đựng nước nóng quá 70 độ C không chỉ biến dạng mà còn phân giải ra các chất có hại cho sức khỏe. Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng, chế phâm nhựa này nếu sử dụng quá 10 tháng có thé sinh ra các chất gây ung thư.
Số 2: là HDPE - polyethylene có mật độ cao. Các chai nhựa này có khả năng chịu nhiệt tới 110 độ C, thường được dùng đựng thực phẩm, sữa tắm hoặc các vật có độ tỉnh khiết cao. Khi tái sử dụng cần hết sức lưu ý, vì loại nhựa này khó làm sạch, các chất còn sót lại rất dé trở thành ô vi khuẩn. Số 3: là chất PVC - nhựa PVC.
PVC thường có trong áo mưa thông thường, vật liệu xây dựng, đồ nhựa, hộp nhựa, tuy có độ dẻo tốt, giá rẻ nhưng thường chỉ sử dụng được đến độ nóng 81 độ C. Chất này có thê giải phóng rất nhiều khi ở nhiệt độ cao nên hiếm khi dùng làm bao bì sản phâm, đồng thời cũng rất khó làm sạch và không thể tái sử dụng. Số 4: là LDPE - polyethylene mật độ thấp. LDPE khá phô biến trong các túi đựng, hộp mì và vỏ bim bim.
Sản phẩm chứa chất này sẽ không thể làm nóng trong lò vi sóng, tránh nhiệt độ cao vì sẽ giải phóng hóa chất. Số 5: là PP (nhựa polypropylene).