MỞ ĐẦU Phân tích các nhân phóng xạ trong các đối tượng môi trường đang trở nên hết sức cấp thiết đối với các nhà quan trắc và nghiên cứu môi trường. Nhân phóng xạ tự nhiên đặc biệt là của urani và các nguyên tố trong chuỗi phân hạch của urani có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình đánh giá sự biến đổi địa hóa của trái đất, Các đồng vị của urani là những chất chỉ thị tin cậy cho sự biến đổi môi trường. Ngày nay, với sự thay đổi khí hậu trái đất và tính axit tăng lên trong nước biển đã làm thay đổi một cách cơ bản về sự cân bằng của các thành phần nguyên tố trong nước biển, trong các dải san hô và trầm tích trong đại dương. Để có được những kết quả phân tích chính xác hoạt độ phóng xạ của các đồng vị 234 U và 238U, phương pháp phân tích hiện nay chủ yếu được sử dụng là đo hoạt độ của các đồng vị này bằng phổ kế alpha.
Vấn đề khó khăn thường gặp phải trong phân tích bằng phổ kế alpha là sự chuẩn bị mẫu. Giai đoạn chuẩn bị mẫu đóng vai trò quyết định cho cả quá trình phân tích vì hiệu suất tách, hiệu suất đo chiếm tỷ trọng rất lớn trong giai đoạn này. Một quy trình khá phổ biến hiện nay cho việc tách 238U và 234U trong tất cả các đối tượng môi trường là mạ điện urani trên đĩa thép không rỉ. Để xác định hiệu suất thu hồi đồng vị 232U được sử dụng.
Đây là một quy trình rất phức tạp, tiêu tốn nhiều thời gian và bắt buộc phải luôn luôn sử dụng vết (tracer) là 232U, cho nên giá thành phân tích cho một mẫu rất đắt và độc hại tới môi trường. Việc nghiên cứu một quy trình mới để giảm giá thành và không sử dụng vết 232U để phân tích 234U và 238U cho các phòng phân tích phóng xạ bằng phương pháp phổ kế alpha đặc biệt đối với môi trường biển là hết sức cần thiết. Được sự giúp đỡ của Trung tâm Hạt nhân Tp. Chúng tôi đã nghiên cứu tách urani từ nước biển bằng khoáng sét tổng hợp hydrotalcite, khử U(VI) thành U(IV) bằng Zn kim loại và đồng kết tủa U(IV) với LaF3.
Kết quả nghiên cứu đã cho một quy trình tách 234U và 238U hết sức đơn giản nhưng đạt độ chính xác cao. Mặt khác quy trình này không sử dụng TiCl4 để khử U(VI) và vết đồng vị phóng xạ 232U là tracer là những chất độc hại cho con người và môi trường. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC I.Giới thiệu chung về các đồng vị của urani và ý nghĩa của chúng trong môi trường biển. Trong số những nguyên tố kim loại chúng ta đã biết trong bảng tuần hoàn hóa học, urani và các đồng vị của nó có một vai trò quan trọng trong nghiên cứu địa hóa và môi trường.
Urani có mặt trong các khoáng vật, trong đất trồng, sông hồ và đại dương.Mặc dù tồn tại ở mức hàm lượng rất nhỏ nhưng urani luôn được chú ý tới và là yếu tố không thể thiếu được trong đánh giá tuổi địa chất, nguồn gốc của khoáng vật và sự biến đổi của lớp vỏ trái đất trong hàng triệu triệu năm [1]. Nguyên tố urani có số nguyên tử 92 và trọng lượng phân từ là 238,0289 g/mol. Tỷ trọng của urani kim loại bằng 19 g/cm3, nhẹ hơn vonfram (W) nhưng lớn hơn chì (Pb). Urani tự nhiên chứa ba đồng vị phóng xạ 234U, 235U và 238U.
Phần trăm của mỗi đồng vị phóng xạ theo khối lượng khoảng 0,054% 234U, 0,72% 235U và 99,27% 238U. Khoảng 48,9% hoạt độ phóng xạ là của 234U, 2,2% 235U và 48,9% 238U. Thời gian bán rã của các đồng vị urani rất dài, 24400 năm đối với 234U, 710 triệu năm đối với 235U và 4500 triệu năm đối với 238U. Phân rã của urani thành nhiều đồng vị phóng xạ được gọi là con cháu của urani, ở cuối chuỗi phân rã là đồng vị bền (không có tính phóng xạ) đó là nguyên tố chì (Pb).
Do thời gian bán rã lớn so với tuổi của hệ mặt trời, urani được xem như là nguyên tố phóng xạ nguyên thủy tìm thấy trong tự nhiên. Các tính chất hạt nhân của các đồng vị urani đưa ra trong bảng 1 [2,3]. Tất cả đồng vị của urani chịu cùng các phản ứng hóa học trong tự nhiên và có những đặc tính hóa học đồng nhất, như điểm nóng chảy, điểm sôi và độ bay hơi. Tuy nhiên, tính chất phóng xạ (thời gian bán rã, hoạt độ riêng, kiểu phân rã…) của tất cả đồng vị của urani là khác nhau [4].
Địa hóa biển của urani đã được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây với việc đo các thành phần của urani và sự phân bố của chúng trong đại dương,nghiên cứu các đồng vị con cháu của nó có mặt trong các quá trình tiến hóa của đại dương. Các phép đo xác 2 Luan van định urani bằng phổ kế alpha đã cho những thông tin về hành vi của urani trong môi trường biển. Xác định tuổi do mất cân bằng của dãy urani liên quan đến tính toán tuổi của chuỗi phân rã của 238U. 238U phân rã alpha thành 234U sau đó phân rã tiếp tục thành 230Th (thời gian bán rã là 75.
Có một số đồng vị con cháu trong dây truyền phân rã như 234Th và 234Pa, tuy nhiên thời gian sống của các đồng vị này không đáng kể so với các đồng vị mẹ. nếu tính cho thời gian bán rã của 238U, dãy phân rã này sẽ là cân bằng thế kỷ, hay nói một cách khác, hoạt độ của các đồng vị mẹ và đồng vị con cháu sẽ đồng nhất (và do đó tỷ số của chúng sẽ bằng 1). Do 234U chiếm trong các vị trí mạng lưới tinh thể dễ bị phá hủy bời quá trình phân rã alpha, đồng vị 234U dễ dàng thoát ra từ đá trong quá trình phong hóa tạo thành “lượng dư” của 234U trong nước bề mặt và di chuyển vào đại dương. Do vậy, tỷ lệ hoạt độ phóng xạ của 234U/238U lớn hơn 1 trong nước biển và và tỷ lệ này cũng được duy trì trong san hô.
Sự gia tăng nhiệt độ của trái đất do hiện tượng nhà kính làm cho nhiệt độ và tính axit của nước biển tăng lên có thể làm mất cân bằng của các chu trình tự nhiên mà nó đã được xác lập hàng triệu năm. Để đánh giá những thay đổi này cần phải có những chỉ thị đặc biệt có khả năng cung cấp những thông tin chính xác về sự thay đổi nhiệt độ trong nước biển.Không ai hết, đó là các đồng vị phóng xạ tự nhiên trong chuỗi phân hạch của urani và tỷ số của chúng.Tuy nhiên, vì chúng tồn tại trong nước biển một lượng rất nhỏ (cỡ ppb) nên cần phải có những công cụ và phương pháp phân tích rất nhạy và chính xác để xác định chúng. Bảng 1: Đặc tính hạt nhân của các đồng vị urani Hạt nhân Thời gian bán Độ giàu Kiểu phân rã Sự tạo thành rã (%) (năm) 232 U 68,9 Vết 232 Th(,4n) 233 U 1,59.105 Vết Phân rã - của 233 Pa 234 U 2,46.107 Vết 235 U(n,) 238 U(n,3n) Phân rã của 3 Luan van 240 Pu 238 U 4,47.Những nghiên cứu làm giàu urani từ nước biển Để xác định thành phần đồng vị của urani trong môi trường biển đòi hỏi phải thông qua nhiều giai đoạn. Trước hết là giai đoạn làm giàu.
Đây là giai đoạn có tính quyết định của quá trình vì độ giàu của urani trong nước biển rất thấp và nồng độ muối cao nên giai đoạn làm giàu phải được sử dụng. Giai đoạn thứ hai, urani phải được tách ra từ các hợp chất hoặc là các nguyên tố sẽ ngăn cản trong phân tích urani. Giai đoạn cuối cùng là tạo ra mẫu đo dưới dạng nguồn có độ mỏng thích hợp để đo. Quy trình phân tích urani theo các giai đoạn trên đã được đưa ra trong các công trình của Amoli và Barker[5].
Jia và cộng sự[6], Jia và cộng sự [7], Huy và cộng sự [8] và Zarki và cộng sự [9].Để xác định hiệu suất làm giàu, hầu hết tất cả các quy trình làm giàu được tiến hành hiện nay đều sử dụng vết đồng vị phóng xạ 232U. Đồng vị phóng xạ 232U phát bức xạ alpha không có trong tự nhiên được thêm vào mẫu tại thời gian thu mẫu hoặc khi mẫu đưa về phòng thí nghiệm. Các quy trình tách urani tại hiện trường thường không được định lượng trừ phi đồng vị phóng xạ 232U thêm vào cân bằng với các đồng vị phóng xạ của urani trong mẫu. Nếu mẫu phân tích không được xử lý tại hiện trường, mẫu phải được axit hóa bằng axit HCl hoặc HNO3 để ngăn cản sự kết tủa của Fe dưới dạng Fe(OH)3 trong bình chứa mẫu.
Lượng axit thêm vào để mẫu đủ độ axit với pH xấp xỷ bằng 1,0. Trong trường hợp mẫu nước chứa chất rắn lơ lửng, cần phải loại bỏ bằng phương pháp lọc với giấy lọc Millipore (0,45 µm). Lọc để loại bỏ kết tủa thường được sử dụng cho mẫu nước bề mặt. Dojozan và cộng sự [10] đã nghiên cứu làm giàu urani từ nước biển bằng phương pháp chiết pha rắn, sau đó urani trong mẫu làm giàu được phân tích bằng phương pháp cực phổ xung vi phân.
Quá trình chiết được tiến hành sau khi U(VI) oxinate được tạo thành bởi phản ứng của U(VI) với 8-hydroxylquinoline và hấp phụ trên octylsilanre (C-8) SPE catridge. U(VI) được rửa khỏi pha rắn bằng dung dịch chloroform. Phương pháp làm giàu U(VI) bằng chiết trên pha rắn đạt đến hơn 100 lần và hiệu suất thu hồi urani là 99,8%. Một số nguyên tố ảnh hưởng trong quá trình làm giàu và phân tích như Ca(II), Mg(II) và Fe(III) được che bằng EDTA.
Các tác giả Das và cộng sự [11] đã sử dụng màng sợi poly(propylene) được chức hóa phosphate để làm giàu urani. Màng có lỗ lớn poly(ethylene glycol methacrylate phosphate) được điều chế bằng cách ghép ethylene glycol methacrylate phosphate lên tấm sợi poly(propylene) sử dụng bức xạ UV và dòng electron. Sản phẩm ghép có 4 Luan van dung lượng hấp phụ cao đối với urani trong nước biển. Urani có thể giải hấp ra khỏi vật liệu hấp phụ bằng cách rửa với dung dịch Na2CO3 0,5M.
Làm giàu urani từ nước biển bằng phương pháp hấp phụ trên hydrogels khâu mạch chứa poly(ethylene glycol methacrylate phosphate (EGMP), poly(2-acrylamido- 2methyl-1-propane sulfonate) (AMPS), poly(acrylamidoxim)(AO) và AO cùng với các axit khác nhau (acrylic axit (AA), methacrylic axit (MAA), AMPS và EGMP) và các đồng monomer baz (3-(acrylamide propyl) trimethylammonium chloride (APTAC) được điều chế bằng cách sử dụng bức xạ UV như là một tác nhân khơi mào cho quá trình polymer hóa [12]. Các tác giả đã phát hiện các hydrogel hấp phụ định lượng urani ( 9%) từ nước biển.