Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về mạng lƣới giao thông đƣờng bộ và vấn đề sử dụng đất gia cố trong xây dựng đƣờng ô tô tại tỉnh Bình Phƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng mặt đƣờng và nguồn vật liệu trong xây dựng đƣờng ô tô tại tỉnh Bình Phƣớc. Chƣơng 3: Nghiện cứu thực nghiệm và khả năng sử dụng đất sỏi đỏ gia cố xi măng trong xây dựng đƣờng ô tô tại tỉnh Bình Phƣớc. Phần kết luận, kiến nghị Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục -3- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG LƢỚI GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT GIA CỐ TRONG XÂY DỰNG ĐƢỜNG Ô TÔ TẠI TỈNH BÌNH PHƢỚC 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, địa hình và địa chất tại tỉnh Bình Phƣớc 1.1 Vị trí địa lý [8] Bình Phƣớc thuộc phía Tây miền Đông Nam Bộ, đƣợc tách ra từ tỉnh Sông Bé để thành lập hai tỉnh mới là Bình Phƣớc và Bình Dƣơng theo quyết định của Quốc hội tháng 12 năm 1996.
Bình Phƣớc có diện tích khoảng 6.856 km2, giáp với Đồng Nai, Bình Dƣơng ở phía Nam; Đông giáp Đắc Lắc, Lâm Đồng; Tây giáp Tây Ninh; Bắc và Tây Bắc giáp Vƣơng quốc Campuchia. Bên cạnh những địa phƣơng có nhiều thế mạnh về tiềm năng kinh tế nhƣ Đồng Nai, Bình Dƣơng, Đắk Lắk. thì Bình Phƣớc cũng là một lợi thế để tạo nên một khu vực phát triển kinh tế mạnh ở phía Nam.2 Địa hình Đây là khu vực có địa hình mang tính đặc thù của miền trung du Đông Nam Bộ, gồm những tuyến đƣờng xây dựng nằm trên địa hình tƣơng đối dốc, cao độ thay đổi giữa vị trí cao nhất và vị trí thấp nhất tƣơng đối lớn.3 Khí hậu - Thuỷ văn Khu vực dự án nằm trong vùng có khí hậu 2 mùa rõ rệt đặc trƣng là vùng khí hậu cận á nhiệt đới Miền Đông nam Bộ và vùng khí hậu á nhiệt đới Tây Nguyên. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 - tháng 10 và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 - tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa từ 1.
Đỉnh mƣa tập trung vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm. - Nhiệt độ trung bình : 270C - Nhiệt độ cao nhất 390C - Nhiệt độ thấp nhất 120C - Số ngày mƣa trung bình trong năm: 113 ngày - Độ ẩm tƣơng đối của không khí từ 85 - 90 % trong các tháng mùa mƣa và 65 - 85% trong các tháng mùa khô. Độ ẩm thấp nhất là 35 - 40%. -4- - Mực nƣớc ngầm thƣờng cách mặt đất 5m – 10m và thay đổi theo mùa.
Trữ lƣợng nƣớc hạn chế do nguồn bổ cập trực tiếp là nƣớc mƣa nên không ảnh hƣởng đến công trình. - Thuỷ văn: Không ảnh hƣởng đến nƣớc thủy triều, chủ yếu chịu ảnh hƣởng nƣớc mƣa của khu vực đổ về.4 Địa chất Nằm trên khu vực vùng đồi là vùng đất Feralít phát triển trên đá BaZan nên nền đất khá tốt thuận lợi cho việc xây dựng công trình. Qua số liệu khảo sát địa chất phần đƣờng, Điạ chất đƣợc chia làm các lớp nhƣ sau: - Lớp 1: Lớp đất hữu cơ dày 0,2 m (cục bộ qua ruộng là từ 0. - Lớp 2: Lớp sét pha dày 2,5 - 3m, màu vàng nhạt.
- Dƣới lớp 2 là lớp cát pha có lẩn sỏi sạn, có nơi là sỏi đỏ. Nhìn chung địa chất khu vực tuyến tƣơng đối ổn định, không ảnh hƣởng lớn đến việc xây dựng công trình.2 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phƣớc [8] 1.1 Tổ chức hành chính Tỉnh Bình Phƣớc có 03 Thị xã và 07 huyện: thị xã Đồng Xoài, thị xã Bình Long, thị xã Phƣớc Long, huyện Bù Đăng, huyện Bù Đốp, huyện Bù Gia Mập, huyện Chơn Thành, huyện Đồng Phú, huyện Hớn Quản, huyện Lộc Ninh. Tỉnh Bình Phƣớc có tổng cộng 111 xã, phƣờng và thị trấn. Trung tâm hành chính, kinh tế của tỉnh đặt tại thị xã Đồng Xoài.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phƣớc [10] 1.2 Dân số và lao động Theo số liệu Niên giám thông kê năm 2010, dân số tỉnh Bình Phƣớc là 893.353 ngƣời, mật độ dân số 130 ngƣời/km, trong đó nam chiếm 50,47%.
Về dân cƣ, hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Phƣớc có đến 41 dân tộc anh em sinh sống, trong đó ngƣời kinh chiếm 80,28% (724.680 ngƣời), Tày chiếm 2,65%, Xtiêng chiếm 9,35%, Nùng chiếm 2,65%, Khơ me chiếm 1,78%,… Tính đến cuối năm 2010, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là 516.823 ngƣời trong đó làm việc cấp quản lý trung ƣơng là 25.625 ngƣời chiếm 4,96%, theo cấp địa phƣơng là 491.198 ngƣời chiếm 95,04%.Lao động trong khu vực I chiếm 69,6% giảm dần so với năm 2000 là 87,5% và năm 2005 là 75,8%.3 Các chỉ tiêu kinh tế Trong giai đoạn 2006-2010, GDP của tỉnh Bình Phƣớc có tốc độ tăng trƣởng liên tục khá cao, đạt 13,2% vƣợt so với chỉ tiêu đề ra. Khu vực I chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP của tỉnh Bình Phƣớc, cho thấy ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.1: GDP giai đoạn 2006-2010 của Bình Phƣớc Tăng Bình ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 quân năm GDP Tỷ.081,00 13,20% Khu vực I Tỷ.864,90 9,08% Khu vực II Tỷ.467,90 19,96% Khu vực III Tỷ.748,70 16,13% Cơ cấu Khu vực I % 54,5 53,0 51,5 50,0 47,1 Khu vực II % 19,8 21,4 22,4 22,6 24,1 Khu vực III % 25,7 25,6 26,1 27,4 28,8 Nguồn: Niên giám thống kê 2010 (Giá so sánh năm 1994) Cơ cấu GDP chuyển dịch tăng nhanh, khu vực I có xu hƣớng tăng chậm, khu vực II và III có xu hƣớng tăng lên xong vẫn chiếm tỷ trọng thấp so với khu vực I. Muốn đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao đời sống nhân dân nhất thiết phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh hơn nữa nhất là khu vực II và III.2 : Cơ cấu GDP giai đoạn 2006-2010 của Bình Phƣớc Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch đúng hƣớng, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đã tăng lên, ngành nông, lâm, thủy sản đã giảm xuống. Ngành công nghiệp – xây dựng từ 18,0 % năm 2010 tăng lên 24,1 % vào năm 2010, tƣơng ứng ngành dịch vụ từ 25,3 % tăng lên 28,8 % và ngành nông lâm, thủy sản từ 56,7 % giảm xuống còn 47,1%.4 Phát triển các ngành [8] 1.1 Nông, lâm nghiệp và thủy sản Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và ngƣ nghiệp đạt mức tăng trƣởng bình quân hàng năm 6,5 %, trong đó nông nghiệp đạt mức tăng trƣởng 9,9 % và chiếm đến 97,9 % tổng giá trị sản xuất.
a) Nông nghiệp Là ngành có giá trị tăng thêm lớn nhất trong giai đoạn vừa qua, chiếm tỷ trọng rất lớn từ 97-98 % trong cơ cấu của khu vực I. Điều này chứng tỏ rằng nông nghiệp có vị trí quan trọng không những trong khu vực I mà còn rất quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh. Nông nghiệp hiện tại và trong tƣơng lai vẫn là thế mạnh của tỉnh Bình Phƣớc. -8- Trồng trọt là ngành sản xuất chính trong sản xuất nông nghiệp, chiếm hơn 90 % giá trị sản xuất của nông nghiệp.
Đến năm 2010 tổng diện tích gieo trồng là 402. Một số cây trồng chính có giá trị hàng hóa cao luôn chiếm tỷ trọng lớn nhƣ các cây công nghiệp lâu năm. Qua số liệu bảng trên cho thấy sản lƣợng của các cây công nghiệp lâu năm chính của tỉnh đều đạt mức tăng trƣởng khá cao và ổn định. Chăn nuôi phát triển khá nhanh trong những năm qua, đặc biệt là đàn gia súc.
Tính năm 2010 toàn tỉnh có 19.520 con heo, bình quân mỗi năm thời kỳ 2000-2006 đàn trâu tăng 0,26 %, bò tăng 18,28 %, heo tăng 3,6 %. b) Lâm nghiệp Vị trí của rừng ở tỉnh Bình Phƣớc đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái của vùng Đông Nam Bộ, có tác dụng tham gia điều hòa dòng chảy của các con sông. Tuy nhiên do tình trạng chặt phá rừng trong giai đoạn từ 2000 - 2005 nên diện tích rừng tập trung giảm mạnh từ 2. Thực hiện chủ trƣơng bảo vệ và phát triển rừng, các lâm trƣờng đã chuyển sang làm nhiệm vụ trồng và bảo vệ rừng từ đó đi đến khai thác rừng hợp lý.
Điều này đƣợc thể hiện qua việc diện tích trồng rừng từ 629 ha lên 927 ha nhƣng giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh phân theo ngành hoạt động tăng từ 18. c) Thủy sản Là một tỉnh miền núi trung du, nên hoạt động thủy sản chủ yếu là tận dụng các hồ ao và các hồ chứa nƣớc để nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, trong những năm qua nhiều hộ gia đình đã áp dụng mô hình Vƣờn-Ao-Chuồng để tận dụng những sản phẩm của nông nghiệp để nuôi cá, ba ba. Giá trị sản xuất thủy sản bình quân mỗi năm giai đoạn 2005-2010 tăng từ 31,75 lên 52,10 tỷ đồng tăng trung bình 10 % hàng năm.2 Công nghiệp-xây dựng Tốc độ tăng trƣởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp-xây dựng bình quân trong giai đoạn năm 2006-2010 đạt 21%, về cơ cấu, từ chỗ chỉ chiếm 18,5% năm 2006 đã tăng lên 24,1% vào năm 2010.
-9- a) Công nghiệp Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trƣởng bình quân 21%/năm. Do công nghiệp của tỉnh đi lên từ điểm xuất phát ban đầu rất thấp, mặc dù đạt tỷ lệ tăng trƣởng bình quân rất cao nhƣng khối lƣợng sản phẩm và giá trị sản xuất còn thấp, chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và lợi thế phát triển của tỉnh. Năm 2010, số doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình doanh nghiệp trên toàn tỉnh có 1. Các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp với hầu hết có quy mô nhỏ, phân tán, chƣa đƣợc quy hoạch tập trung theo các khu, cụm công nghiệp.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu là hạt điều nhân, tinh bột mì, vật liệu xây dựng, đũa tre, bột giấy. b) Xây dựng Giá trị sản xuất của ngành xây dựng theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế của tỉnh giai đoạn 2005 – 2010 tăng từ 856.172 triệu đồng (gấp 3 lần) trong đó kinh tế ngoài nhà nƣớc chiếm 95 % .3 Thƣơng mại, dịch vụ Mạng lƣới thƣơng mại, dịch vụ phát triển nhanh, nhất là ở khu vực trung tâm thị xã, thị trấn và các xã, đã từng bƣớc vƣơn lên đáp ứng các yêu cầu phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân. Với sự tham gia của các thành phần kinh tế, tính đến năm 2010 đã có 21.330 lao động tham gia kinh doanh thƣơng mại khách sạn nhà hàng và dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2010 thực hiện 12.