ĐẶT VẤN ĐỀ Theo số liệu thống kê của viện Guttmacher, có khoảng 214 triệu phụ nữ có nhu cầu chủ động về thời gian hoặc ngăn ngừa mang thai nhưng lại không sử dụng các BPTT hiện đại và 40% trường hợp mang thai là ngoài ý muốn, một nửa trong số này kết thúc bằng việc đình chỉ thai nghén. Có 56 triệu ca nạo phá thai mỗi năm, trong đó có 22 triệu ca là phá thai không an toàn [1]. Mặc dù tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại đã tăng gần gấp đôi trên toàn thế giới - từ 36% tại thời điểm năm 1970 lên 64% vào năm 2016. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn phải vượt qua một chặng đường dài để có thể đảm bảo rằng tất cả phụ nữ đều có quyền tự quyết định số con, thời điểm sinh và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với chính mình [1].
Có thể nói rằng, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 đã cho thấy công tác Dân số đạt được thành tựu hết sức tốt đẹp. Tổng tỷ suất sinh năm 2009 là 2,03 con và đã đạt mức sinh thay thế. Tỷ suất sinh thô giảm từ 18,6‰ năm 2001 xuống còn 17,6‰ năm 2009. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 73,9% năm 2001 lên 79,5% năm 2008.
Tuy nhiên công tác Dân số còn nhiều khó khăn, thách thức. Giảm sinh đã làm tốt nhưng chưa bền vững, còn 28/63 tỉnh, thành (chiếm 34% dân số cả nước) chưa đạt mức sinh thay thế trong đó có tỉnh Hà Giang[2]. Hà Giang là một tỉnh địa đầu cực bắc của Tổ quốc có đường biên giới dài hơn 274km. Dân số là 820.
Người Mông chủ yếu sống tập trung ở Cao nguyên đá Đồng Văn [19]. Đồng Văn là một trong những huyện mang đầy đủ nét đặc trưng của tỉnh Hà Giang. Huyện Đồng Văn gồm 2 thị trấn và 17 xã trong đó 17/17 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 của Chính phủ.500 người chủ yếu là dân tộc Mông (92,3%). Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng 2 các BPTT hiện đại chỉ chiếm có 66,4%, thấp nhất so với toàn tỉnh và mức trung bình áp dụng các BPTT hiện đại trên cả nước [3].
Xã Thài Phìn Tủng nằm ở phía Bắc của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Thài Phìn Tủng theo tiếng Mông là “nhà trên hố nước”. Trước kia Thài Phìn Tủng là một trong những xã nghèo nhất của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và cả nước. Cả xã là một rừng đá tai mèo nhọn hoắt.
Nước thiếu, đất thiếu, đồng bào chỉ biết lật đá trồng ngô nên cái đói nghèo cứ đeo bám dai dẳng. Xã có 15 thôn bản, với 960 hộ, trong đó có tới 81% là hộ nghèo [19]. Diện tích đất canh tác lúa rất ít, cây trồng chủ yếu là ngô, chăn nuôi chủ yếu là bò. Nói chung, đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Tổng số dân là 5.191 người trong đó số phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng là 936 người chiếm 18,03% tổng số dân. Cả xã có 566 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng các BPTT hiện đại, chiếm 60,5%. Cơ cấu sử dụng BPTT chủ yếu là DCTC chiếm 83,03% [4]; Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông tại xã đã phản ánh đúng thực trạng sử dụng trên thực tế hay chưa? Và liệu có những yếu tố nào liên quan đến việc sử dụng các BPTT hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông tại xã Thài Phìn Tủng? Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các BPTT hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông là rất cần thiết nhằm góp phần bổ trợ cho hoạt động tác nghiệp về KHHGĐ, nâng cao chất lượng sống của đồng bào dân tộc thiểu số và cũng là thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1- Mô tả thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, năm 2018. 2- Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, năm 2018. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1.
Kế hoạch hóa gia đình Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con mong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh. KHHGĐ không chỉ là sử dụng các biện pháp để tránh thai ngoài ý muốn mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng hiếm muộn để có thai và sinh con. Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình Bao gồm việc cung cấp thông tin, truyền thông, tư vấn về KHHGĐ, các BPTT và chăm sóc sức khỏe sinh sản, cung cấp các phương tiện tránh thai, can thiệp thủ thuật sử dụng BPTT lâm sàng. Các biện pháp tránh thai Khái niệm: BPTT là các biện pháp can thiệp tác động lên cá thể vợ hoặc chồng nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ.
Phân loại: Căn cứ vào cơ chế tác dụng, tính chất và phương thức cung ứng, có thể có nhiều cách để phân loại các biện pháp tránh thai: BPTT hiện đại là những biện pháp cần sử dụng đến các dụng cụ hoặc phương tiện để tránh thai. BPTT tự nhiên là các biện pháp không có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật như tính vòng kinh để kiêng giao hợp vào ngày rụng trứng, xuất tinh ngoài âm đạo, cho con bú vô kinh. Ngoài ra, trong thực tế người ta còn phân loại BPTT lâm sàng và BPTT phi lâm sàng. BPTT lâm sàng là có sự can thiệp của cán bộ y tế như đặt DCTC, triệt sản nam, triệt sản nữ, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai.
BPTT phi lâm sàng là không cần có sự can thiệp của cán bộ y tế như viên uống tránh thai, bao cao su, thuốc diệt tinh trùng. Các biện pháp tránh thai tự nhiên (1)- Phƣơng pháp tính vòng kinh (phƣơng pháp kiêng giao hợp định kỳ): Là biện pháp dựa vào vòng kinh, xác định những ngày xa giai đoạn rụng trứng để không có thai khi giao hợp vào những ngày này. 5 (2)- Phƣơng pháp cho con bú vô kinh: Là BPTT tạm thời dựa vào việc cho bú mẹ hoàn toàn sau sinh khi chưa có kinh trở lại và con dưới 6 tháng tuổi. (3)- Phƣơng pháp xuất tinh ngoài âm đạo: Phương pháp này đòi hỏi sự chủ động của nam giới trong lúc giao hợp là chính.
Phương pháp này cho phép quá trình giao hợp diễn ra bình thường nhưng lúc chuẩn bị xuất tinh, người nam đưa dương vật ra ngoài cho xuất tinh ngoài âm đạo, không cho tinh trùng vào được đường sinh dục nữ nên ngăn cản hiện tượng thụ tinh. Ƣu điểm của các BPTT tự nhiên: - Không cần phương tiện, thiết bị can thiệp do đó tránh được những tai biến cũng như các tác dụng phụ. Nhƣợc điểm: - Hiệu quả tránh thai thấp. - Yêu cầu sự chủ động khi áp dụng các biện pháp.
- Một số biện pháp khá phức tạp và dễ thất bại khi sử dụng. Các biện pháp tránh thai hiện đại (1) - Triệt sản: Ưu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, chỉ thực hiện một lần có tác dụng tránh thai vĩnh viễn; không có tác dụng không mong muốn, không ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tình dục. Nhược điểm: Phải được thực hiện tại cơ sở y tế có đầy đủ phương tiện; khó hồi phục sau khi can thiệp; có thể có những tai biến xảy ra trong và sau khi phẫu thuật. (2) - Đặt dụng cụ tử cung: Ưu điểm: Sử dụng tiện lợi, thời gian sử dụng lâu dài, hiệu quả tránh thai cao; nhanh chóng có thai sau khi tháo bỏ dụng cụ.
Nhược điểm: Không có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục; cần có sự can thiệp y tế khi đặt vòng; tăng lượng máu kinh, nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục. Nhược điểm: Kinh không đều, rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh; tăng cân. (4) - Thuốc tiêm tránh thai: Ưu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, có tác dụng kéo dài, giảm nguy cơ u xơ tử cung, ngăn ngừa ung thư niêm mạc tử cung. Nhược điểm: Rối loạn kinh nguyệt, vô kinh; có thai trở lại chậm; không tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
(5)- Viên uống tránh thai (Viên thuốc tránh thai kết hợp): Ưu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, nhanh chóng có thai lại sau khi dừng thuốc; giảm lượng máu kinh, đau bụng kinh, giảm nguy cơ chửa ngoài tử cung. Nhược điểm: Đòi hỏi phải uống hàng ngày vào một giờ nhất định để đảm bảo hàm lượng thuốc trong máu; không có tác dụng phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. (6)- Bao cao su: Ưu điểm: Tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; tiện lợi, dễ sử dụng, rẻ tiền. Nhược điểm: Nếu không biết sử dụng đúng cách có thể dẫn tới tránh thai thất bại; có thể bị thủng hoặc rách khi sử dụng.
Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Theo báo cáo xu hướng sử dụng biện pháp tránh thai năm 2015 của WHO, 64% phụ nữ trong độ tuổi tuổi từ 15 - 49 có sử dụng BPTT. Tỷ lệ sử dụng BPTT cao nhất ở Bắc Mỹ (75%), tiếp đến là Châu Đại Dương (59%) và thấp nhất ở Châu Phi với 33%[40]. Ở Châu Á, hơn một nửa các quốc gia ở châu lục này có tỷ lệ sử dụng BPTT từ 60% trở lên, trong đó Hồng Kông và Trung Quốc có tỷ lệ sử dụng BPTT cao nhất thế giới với khoảng 86% và 84%.
Cộng hòa Hồi giáo Iran, Thái Lan, Việt Nam cũng là một trong những nước có mức độ sử dụng các BPTT trên 70%. Tuy nhiên 7 vẫn còn một số nước có tỷ lệ sử dụng BPTT dưới 30% như Campuchia, Afghanistan [22]. Trên toàn thế giới năm 2015, ước tính có khoảng 12% phụ nữ đã kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng không được tiếp cận các BPTT.