Khảo sát khả năng sinh trưởng và năng suất của các giống ngô nếp tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất các giống ngô nếp tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, đánh giá hiệu quả canh tác.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và cơ sở khoa học

Nghiên cứu tập trung vào sinh trưởngnăng suất của các giống ngô nếp tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Ngô nếp, với thành phần tinh bột chủ yếu là amylopectin, có giá trị dinh dưỡng cao và là nguồn lương thực quan trọng cho đồng bào dân tộc miền núi. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng thích ứng của các giống ngô nếp mới trong điều kiện sinh thái địa phương, từ đó lựa chọn giống phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân.

1.1. Tình hình sản xuất ngô nếp

Ngô nếp được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm và công nghiệp chế biến. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng ngô nếp tăng nhanh, đặc biệt là các giống ngô nếp lai có năng suất cao. Tuy nhiên, tại Bắc Kạn, năng suất ngô nếp còn thấp do sử dụng giống địa phương và kỹ thuật canh tác chưa hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm khắc phục những hạn chế đó bằng cách đánh giá các giống ngô nếp mới.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là lựa chọn các giống ngô nếp có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao và phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Ngân Sơn. Nghiên cứu cũng đánh giá khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi và mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống ngô nếp.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong hai vụ Xuân và Hè năm 2017 tại huyện Ngân Sơn. Các giống ngô nếp được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi. Phương pháp nghiên cứu bao gồm theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, đo đạc chiều cao cây, số lá, diện tích lá và đánh giá năng suất thực tế.

2.1. Chỉ tiêu đánh giá

Các chỉ tiêu chính bao gồm thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá, diện tích lá và năng suất. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất lợi.

2.2. Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê, sử dụng các chỉ số như hệ số biến động (CV) và sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD 0.05) để đánh giá sự khác biệt giữa các giống ngô nếp.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống ngô nếp có sự khác biệt đáng kể về sinh trưởngnăng suất. Một số giống ngô nếp lai mới cho năng suất cao hơn so với giống địa phương. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thời vụ ảnh hưởng lớn đến các giai đoạn sinh trưởng và năng suất của ngô nếp.

3.1. Ảnh hưởng của thời vụ

Thời vụ Xuân và Hè có ảnh hưởng rõ rệt đến chiều cao cây, số lá và năng suất của các giống ngô nếp. Vụ Xuân thường cho năng suất cao hơn do điều kiện thời tiết thuận lợi.

3.2. Khả năng chống chịu

Các giống ngô nếp lai mới có khả năng chống chịu tốt hơn với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi so với giống địa phương. Điều này làm tăng hiệu quả kinh tế và giảm rủi ro trong sản xuất.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã lựa chọn được các giống ngô nếp có triển vọng, phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Ngân Sơn. Các giống này có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao và chống chịu tốt với điều kiện bất lợi. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng để khuyến cáo sử dụng các giống ngô nếp mới trong sản xuất đại trà.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ngân Sơn. Các giống ngô nếp mới cũng giúp đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh tế.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để đánh giá tính ổn định của các giống ngô nếp mới trong điều kiện sinh thái khác nhau. Đồng thời, cần phát triển các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp để tối ưu hóa năng suất và chất lượng ngô nếp.

02/03/2025
Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống ngô nếp tại huyện ngân sơn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Năng suất cây trồng, sinh trưởng và phát triển của cây phụ thuộc vào tác dụng tổng hợp của các yếu tố đất đai, giống, chất lượng hạt giống, điều kiện sinh thái môi trường, kỹ thuật canh tác, mức độ đầu tư, các loại phân bón, công nghệ sau thu hoạch…Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước khẳng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình cha ông ta đã đúc kết “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” câu nông giao trên đã khẳng định vai trò của giống quyết định về năng suất cây trồng. Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú đa dạng chúng ta đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của nước ta, làm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Những năm gần đây do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về cây trồng, các nhà khoa học Việt Nam đã chọn tạo được rất nhiều giống ngô nếp lai có triển vọng làm cho diện tích trồng ngô nếp của cả nước tăng lên rất nhanh, năng suất và chất lượng được cải thiện rõ rệt, một số giống ngô nếp mới cho năng suất và chất lượng cao đã được công nhận và đang phát triển phổ biến trong sản xuất như: các giống MX2, MX4, MX6, MX10 của công ty giống cây trồng Miền Nam; HN88, HN68, HN90 của công ty Cổ phần giống cây trồng Trung Ương chọn tạo; giống Milky36 do Công ty Seminis Việt Nam sản xuất; giống Wax44 của Công ty SygentaViệt Nam; các giống NL555, NL556, NL557, NL558, MC6805, Mc9a68, MC6891do Viện nghiên cứu ngô chọn tạo…Tuy nhiên c 5 năng suất, chất lượng cây trồng ngoài phụ thuộc vào giống còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật sản xuất, đất đai. Do vậy, để có giống tốt đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương thì trước khi đưa vào sản xuất cần được khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, độ ổn định, khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh bất thuận thì mới lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. Vì vậy đề tài có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để nghiên cứu từ đó khuyến cáo cho bà con nông dân nhằm đưa ra sản xuất đại trà, đảm bảo an ninh lương thực xoá đói, giảm nghèo, kết hợp với định canh, định cư cho các vùng dân tộc thiểu số. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước 1.

Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô hay bắp (Zea mays L. mays) là một loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ. Ngô lan rộng ra phần còn lại của thế giới sau khi người châu Âu tiếp xúc với người châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16. Ngô là cây lương thực được gieo trồng nhiều nhất tại châu Mỹ (Chỉ riêng tại Hoa Kỳ thì sản lượng đã là khoảng 270 triệu tấn mỗi năm) [25].

Các giống ngô lai ghép được các nông dân ưa chuộng hơn so với các giống ngô thông thường do có năng suất cao và có ưu thế giống lai. Trong khi một vài giống ngô địa phương có thể cao tới 7m (23 ft) tại một số nơi, thì các giống ngô thương phẩm đã được tạo ra với chiều cao chỉ khoảng 2,5m (8 ft). Ngô ngọt (Zea mays var. rugosa hay Zea mays var.

saccharata) thông thường thấp hơn so với các giống ngô khác. Do có khả năng thích ứng rộng nên cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới với sản lượng hàng năm cao hơn bất kỳ cây lương thực nào. Năm 2010, gần 164 triệu ha ngô đã được gieo trồng trên khắp thế giới, với sản lượng lên tới 849,8 triệu tấn. Đến năm 2016 c 6 diện tích trồng ngô trên thế giới tăng 182,3 triệu ha, với sản lượng là 1053,8 triệu tấn [15].

Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới năm 2010 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (ta/ha) (triệu tấn) 2010 163,8 51,9 849,8 2011 171,7 51,6 885,3 2012 177,0 49,4 875,1 2013 185,7 54,8 1.053,8 (Nguồn: FAOSTAT [15], USDA, 2017 [17]) Qua bảng số liệu trên cho thấy: giai đoạn 2010-2016, sản xuất ngô trên thế giới có xu hướng tăng về diện tích, năng suất và sản lượng. Từ năm 2010 đến 2016 diện tích trồng ngô tăng từ 163,8 triệu ha lên đến 182,3 triệu ha, năng suất tăng từ 51,9 tạ/ha lên tới 57,8 tạ/ha, sản lượng tăng từ 849,8 triệu tấn lên đến 1. Năm 2013, diện tích trồng ngô trên thế giới đạt cao nhất (185,7 triệu ha), nhưng năng suất và sản lượng ngô đạt cao nhất ở năm 2016 (57,8ta/ha; 1. Mặc dù được trồng khắp nơi trên thế giới nhưng do đặc trưng về điều kiện sinh thái, sự khác nhau về kỹ thuật canh tác nên năng suất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, các châu lục và quốc gia.

Do ngô chịu lạnh kém nên trong khu vực ôn đới người ta trồng ngô vào mùa xuân. Ngô nhạy cảm nhất với khô hạn khi trổ bắp, lúc ngô phun râu sẵn sàng cho việc thụ phấn. Tại Hoa Kỳ, vụ thu hoạch bội thu theo truyền thống vào ngày 4 tháng 7, ở Mỹ là vào khoảng cuối mùa hè, đầu đến giữa mùa thu. c 7 Ngô lấy hạt được để lại trên đồng cho tới cuối thu nhằm làm khô hạt và đôi khi người ta còn để nó qua mùa đông hay đầu mùa xuân.

Tầm quan trọng của lượng hơi ẩm vừa đủ trong đất được thể hiện rõ nét tại nhiều khu vực thuộc châu Phi, nơi mà sự khô hạn mang tính chu kỳ luôn gây ra nạn đói do mùa màng thất bát. Tại Bắc Mỹ, ngô đã từng được thổ dân gieo trồng trên các mô đất theo kiểu caro, trong đó các mô đất cách nhau khoảng 1m, cho phép các máy xới chạy trên đồng theo cả hai hướng ngang và dọc. Tại các khu vực đất đai khô cằn hơn thì hạt được gieo tại đáy các rãnh sâu khoảng 10 đến 12cm để có thể lấy được nhiều nước hơn. Kỹ thuật hiện đại gieo trồng ngô thành các hàng để cho phép việc chăm sóc cây non được thuận tiện hơn, mặc dù kỹ thuật gieo trồng trên các đống đất vẫn còn được sử dụng tại các cánh đồng ngô trong một số khu bảo tồn của thổ dân châu Mỹ.

Tình hình sản xuất ngô ở một số khu vực trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Đông Á 37,3 59,5 221,9 Bắc Mỹ 43,9 96,7 425,0 Nam Mỹ 24,3 58,1 141,2 Nam Phi 3,1 48,4 15,0 Đông Nam Á 9,4 69,5 93,5 Liên Minh Châu Âu 8,7 54,1 60,3 (Nguồn: USDA, 2017 [17]) Số liệu bảng 1.2 cho thấy: Diện tích trồng ngô tập trung chủ yếu ở Bắc Mỹ và Đông Á, chiếm gần 50% diện tích trồng ngô của toàn thế giới. Diện c 8 tích sản xuất ngô ở Bắc Mỹ đạt 43,9 triệu ha. Không chỉ có diện tích trồng ngô lớn nhất mà Bắc Mỹ còn có năng suất và sản lượng ngô cao nhất thế giới, năm 2016 năng suất đạt 96,7 tạ/ha, cao hơn 67,3% so với năng suất trung bình của thế giới, sản lượng đạt 425 triệu tấn, chiếm 40,3% sản lượng ngô toàn thế giới. Đông Á và Nam Mỹ đều là những khu vực có diện tích trồng ngô khá lớn chỉ đứng sau Bắc Mỹ, có năng suất đạt trung bình từ 58,1 đến 59,5 tạ/ha nhưng sản lượng của Nam Mỹ chỉ đạt 141,2 triệu tấn.

Nam Phi là khu vực có diện tích trồng ngô thấp nhất thế giới với diện tích là 3,2 triệu ha, năng suất chỉ đạt 48,4 tạ/ha với sản lượng là 15,0 triệu tấn. Đây là chỉ số khá khiêm tốn so với các khu vực khác trên thế giới do điều kiện khí hậu bất thuận và trình độ canh tác còn hạn chế. Trong khi Mỹ sản xuất gần một nửa sản lượng chung của thế giới thì các nước sản xuất hàng đầu khác còn có Trung Quốc, Brazil, Mexico, Ấn Độ. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,1 109,0 384,8 Trung Quốc 36,8 59,0 291,6 Brazil 17,3 54,0 93,5 Ấn Độ 9,6 27,0 26,0 Mexico 7,5 36,0 27,0 (Nguồn: USDA, 2017 [17]) Năm 2016, Mỹ (35,1 triệu ha) vẫn là cường quốc số một về sản xuất ngô trên thế giới, mặc dù diện tích trồng ngô ít hơn Trung Quốc (36,8 triệu ha), nhưng năng suất ngô của Mỹ rất cao, bình quân đạt 109 tạ/ha nên tổng c 9 sản lượng ngô đạt 384,8 triệu tấn, chiếm 36,5% sản lượng ngô toàn thế giới, cho thấy việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong công tác chọn tạo giống và cải tiến kỹ thuật canh tác ngô của Mỹ đã rất thành công.

Nhiều giống ngô được trồng tại Mỹ là các giống lai. Trên một nửa diện tích gieo trồng ngô tại Mỹ là các giống ngô biến đổi gen bằng cách sử dụng công nghệ sinh học để có được các đặc tính tốt như sức kháng chịu sâu bệnh hay sức kháng chịu thuốc diệt cỏ. Ngô là loại thức ăn gia súc được sản xuất rộng rãi nhất ở Mỹ (Hoa Kỳ), chiếm hơn 95 phần trăm tổng sản lượng và việc sử dụng. Trung Quốc là nước có diện tích sản xuất ngô lớn nhất thế giới đạt 36,8 triệu ha, nhưng do năng suất ngô chỉ đạt 59 tạ/ha (bằng 54,1% năng suất ngô của Mỹ), nên sản lượng chỉ đạt 291,6 triệu tấn bằng 75,8% sản lượng ngô của Mỹ.

Hầu hết ngô cung cấp thành phần năng lượng chính trong thức ăn chăn nuôi. Ngô cũng được chế biến thành nhiều loại thực phẩm và các sản phẩm công nghiệp bao gồm ngũ cốc, rượu, chất làm ngọt và thức ăn phụ. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lương thực chính cho người với phương thức rất đa dạng theo vùng địa lý và tập quán từng nơi. Ngô là cây lương thực quan trọng trên thế giới và là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi.

Theo báo cáo của Ủy ban ngũ cốc Quốc tế, năm 2010 lượng ngô tiêu thụ trên thị trường thế giới là 86 triệu tấn, năm 2011 là 93 triệu tấn, tăng 8,1% so với năm 2010.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sinh trưởng và năng suất các giống ngô nếp tại Ngân Sơn, Bắc Kạn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và năng suất của các giống ngô nếp trong khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của ngô nếp mà còn đưa ra những khuyến nghị về giống cây trồng phù hợp, giúp nông dân tối ưu hóa sản xuất. Điều này mang lại lợi ích lớn cho người đọc, đặc biệt là những ai quan tâm đến nông nghiệp và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi bàn về vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn. Ngoài ra, Luận văn một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các mô hình nông thôn mới. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn điều tra thành phần bệnh hại cây con ở giai đoạn vườn ươm và đề xuất biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp tại Thái Nguyên, giúp bạn nắm bắt các vấn đề về dịch hại trong sản xuất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nông nghiệp và các thách thức mà nông dân đang đối mặt.