mở đầu cuộc cách mạng xanh về cây lúa [14]. Sản lượng lương thực của Việt Nam những năm gần đây tăng bình quân trên 1 triệu tấn/năm. Từ năm 1989 Việt Nam đã tự túc được lương thực và duy trì lượng gạo xuất khẩu ngày một tăng. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực.
Sản lượng lúa của Việt Nam từ 32,55 triệu tấn năm 2000 đã tăng lên 38,89 triệu tấn năm 2009 [38], bình quân tăng 1,1 triệu tấn/năm, đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới. Điều đáng chú ý là trong khi diện tích lúa giảm từ 7.666 nghìn ha năm 2000 xuống 7.440 nghìn ha năm 2009, nhưng sản lượng lúa vẫn tăng 6,36 nghìn tấn. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, xu hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh, dân số liên tục tăng làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp. Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra ở đây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu [35].
Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã làm diện tích trồng lúa bắt đầu đã có dấu hiệu giảm về diện tích, mặc dù sản lượng vẫn tăng cao do việc ứng dụng các TBKHKT vào sản xuất làm tăng năng suất và sản lượng của lúa. Bên cạnh sản lượng lúa tăng chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo, những giống lúa cổ truyền như tám ấp bẹ, tám xoan Dự, nếp cái Hoa vàng, Nàng thơm đã được phục tráng và mở rộng sản xuất [24]. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(triệu tấn) 2000 7,655 42,5 32,550 2001 7,484 42,8 32,000 2002 7,485 45,5 34,364 2003 7,444 46,6 34,669 2004 7,400 48,0 35,500 2005 7,340 49,5 36,340 2006 7,320 48,9 35,801 2007 7,200 49,1 35,900 2008 7.440 52,3 38,895 Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2011 [38] Sản xuất gạo trong thập kỷ qua đã làm cho Việt Nam có thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đưa nền nông nghiệp Việt Nam bước sang giai đoạn sản xuất hàng hoá, hướng tới xuất khẩu. Từ năm 1089 Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu gạo với số lượng 1,4 triệu tấn/năm.
Năm 1999 là năm xuất khẩu nhiều nhất với 4,6 triệu tấn. Ngày nay gạo đã trở thành mặt hàng xuất khẩu, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước. Trước năm 1945 đồng bằng Sông Hồng sản lượng lúa 2 vụ/năm là 25- 30 tạ/ha, đồng bằng sông Cửu Long gieo trồng vụ lúa nổi cho năng suất 11-15 tạ/ha và lúa cấy đạt 15-20 tạ/ ha. Như vậy, có thể nói rằng, trong thời gian qua sản xuất lúa ở Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành công.
Để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực và giữ vị trí xuất khẩu lúa gạo đứng hàng đầu thế giới, một vấn đề đặt ra đó là cần thâm canh tăng vụ, tập trung nguồn lực và trí lực cho việc nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với điều n 10 kiện ngoại cảnh, ít sâu, bệnh chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi. Nhằm nâng cao cả về mặt giá trị xuất khẩu, chúng ta cần tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển lúa chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu lúa gạo trong những năm tiếp sau. TÌNH HÌNH NGHIÊN LÚA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới Cùng với sự phát triển của loài người, nghề trồng lúa được hình thành và phát triển.
Trình độ thâm canh cây lúa cũng ngày một nâng cao. Các giống lúa địa phương không ưa thâm canh, khả năng chống chịu sâu, bệnh kém, năng suất thấp dần được thay thế bằng các giống lúa mới chịu thâm canh, chống chịu sâu, bệnh tốt và thích hợp với điều kiện sinh thái tại địa phương. Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) đã được thành lập ở Philippin. Viện này đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại, tiêu biểu như các dòng IR, Jasmin [36].
Đặc biệt vào thập niên 80 giống lúa IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể. Cuộc " cách mạng xanh " từ giữa thập niên 60 đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á. Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo. Các nhà nghiên cứu của viện lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, lá đứng tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể có giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế.
Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và Jamin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Trên cơ sở là một giống lúa chất lượng cao viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lượng Vitamin và Prôtêin cao, có n 11 mùi thơm, cơm dẻo.) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nguời tiêu dùng [41]. Nhiều nước ở châu Á có diện tích trồng lúa lớn, có kỹ thuật thâm canh tiến tiến và có kinh nghiệm dân gian phong phú. Có đến 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước châu Á, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonêxia, Bangladet, Thái Lan, Việt Nam, Mianma và Nhật Bản [16].
Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới (trên 1,3 tỷ người) là một nước thiếu đói lương thực trầm trọng trong thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, vì vậy công tác nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc và ứng dụng các TBKHKT, nhất là giống lúa mới vào sản xuất. Trong lịch sử phát triển lúa lai trên thế giới, Trung Quốc là nước sử dụng đầu tiên ưu thế lai của lúa vào sản xuất. Năm 1960 khi theo rõi thí nghiệm của mình, Viên Long Bình đã phát hiện một cây lúa lạ khoẻ, bông to, hạt nhiều. Nhưng ông đã thất vọng vì chưa tìm ra phương pháp sử dụng ưu thế lai.
Sau đó ông đã tìm dòng bất dục đực. Con đường tạo giống ưu thế lai theo phương pháp "3 dòng" được hé mở ở đây. Từ năm 1964, Viên Long Bình phát hiện cây có tính bất dục đực nhưng không giữ được tính bất dục đó bởi không có dòng duy trì mẹ. Tháng 11 năm 1970 Lý Tất Hồ cộng tác với Viên Long Bình thu được cây bất dục đực trong loài lúa dại ở đảo Hải Nam.
Đây là thành công có tính quyết định đến việc tạo ra các tổ hợp lai 3 dòng và 2 dòng sau này. Vào năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời hoàn thành quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn thiện và được đưa vào sản xuất năm 1975, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Trung Quốc nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [15]. Những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 Trung Quốc tập trung vào việc lai tạo các giống lúa lai 2 dòng và đang hướng tới tạo ra các dòng lúa lai 1 dòng siêu cao sản (siêu lúa) có thể đạt năng suất 18 tấn/ha/vụ. Về chiến lược phát n 12 triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2 dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng, lúa lai siêu cao sản nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lúa gạo của đất nước [45].
Lúa lai ra đời đã giúp nền sản xuất lúa lai Trung Quốc phá được hiện tượng ''đội trần" của năng suất lúa lúc bấy giờ và lúa lai được coi là thành tựu sinh học của loài người, được xem là "chàng hiệp sỹ khổng lồ đứng lên tiêu diệt giặc đói đang đe doạ hành tinh chúng ta" [17]. Có thể nói rằng Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng lúa lai, đưa lúa lai vào sản xuất đại trà. Nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Trung Quốc, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nuớc đông dân nhất thế giới (1,3 tỷ dân). Các giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh.
Các giống lúa lai như Bồi Tạp Sơn Thanh, Nhị Ưu 838, San Ưu Quế, SYN6, Thục Hưng6…Ngày nay Trung Quốc đã hình thành hệ thống nghiên cứu lúa lai đến tận các tỉnh, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu và kỹ thuật viên đông, xây dựng hệ thống sản xuất, kiểm tra, kiểm nghiệm, khảo nghiệm và chỉ đạo thâm canh lúa lai thương phẩm. Theo FAOSTAT năm 2011, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa đứng đầu thế giới (41.850 nghìn ha), đồng thời Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong cuộc "cách mạng xanh" về đưa các TBKHKT nhất là giống mới vào sản xuất, làm nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ. Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập năm 1946 tại khu Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị trường tiêu thụ.
Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai được sử dụng rộng rãi n 13 như: IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI 136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 … [42] Nhật Bản là nước có diện tích trồng lúa ít 1,6 triệu ha nhưng năng suất bình quân cao đạt 65 tạ/ha, sản lượng đạt 10,4 triệu tấn [66]. Có được kết quả đó là do người Nhật chỉ trồng lúa 1 vụ/ năm, cây lúa được gieo trồng trong điều kiện thời tiết thuận lợi nhất, công tác giống lúa của Nhật cũng được đặc biệt chú trọng về giống chất lượng cao vì người nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao.