Đặt vấn đề Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo lại rừng chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ và bản chất các quy luật sống của rừng trước hết là các quá trình tái sinh, sự hình thành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện tự nhiên môi trường khác nhau. Hiện nay trong nhiều khu vực rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử dụng phương thức khai thác – tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường. Các phương thức khai thác – tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Ở Việt Nam hiện nay thực trạng nạn chặt phá rừng ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề hết sức nghiêm trọng.
Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), chỉ trong hơn 5 năm từ 2012 – 2017, diện tích rừng tự nhiên đã bị mất do chặt phá rừng trái pháp luật mất chiếm 11%, 89% còn lại là do chuyển mục đích sử dụng rừng tại những dự án được duyệt.Tính đến tháng 09/2017, diện tích rừng bị chặt phá là 155,68 ha và 5364,85 ha diện tích rừng bị cháy. Nhất là độ che phủ rừng ở khu vực miền Trung. Độ che phủ rừng ở nước ta hiện còn chưa đến 40%, diện tích rừng nguyên sinh còn khoảng 10%. Ở Việt Nam Cây Đinh mật (Fernandoa brillettii Dop) là gỗ lớn thường xanh, cao 20-30m, đường kính 0,5-1,3m.
Vỏ màu xám tro bong mảng, có nhiều lớp mỏng lớp trong có màu nâu vàng. Đinh mật phân cành thấp, cành non hơi vuông cạnh, phủ lông vàng. Cây mọc trong rừng thường xanh nơi có thảm thực vật dày ẩm.Gỗ Đinh mật bền, chắc, không bị mối mọt cong vênh Luan van 2 nên rất được ưa chuộng trong ngành gỗ. Đặc biệt để đóng đồ nội thất, làm nhà ở, đóng tàu thuyền… những cây gỗ lớn trong tự nhiên đã bị khai thác triệt để.
Gỗ gù hương (Cinnamomum balansae) là loại cây lấy gỗ, ở miền Nam thường được gọi bằng cái tên xá xị, do xuất phát từ đặc trưng mùi của gỗ. Cây gù hương là loại cây tinh dầu. Cây tỏa ra mùi thơm đặc trưng, có thể xua đuổi côn trùng, muỗi, gián. Nếu bày trong nhà, không những vượng khí mà còn có lợi cho sức khỏe.
Gỗ gù hương là dòng gỗ cao cấp, đặc biệt những loại gỗ có tuổi đời càng lâu thì giá trị, chất lượng càng cao.Loại gỗ này thuộc nhóm I và đứng thứ 4 trong số 6 loại gỗ có mùi thơm quý hiếm.Trước khi biết khai thác gỗ của gù hương thì con người đã phát hiện ra gù hương còn có tác dụng rất lớn trong đời sống hàng ngày. Đó chính là dùng để chữa bệnh. Để phục vụ cho công tác bảo tồn, thương mại hóa sản phẩm và phát triển kinh tế vùng nông thôn miền núi nói chung và ở THÁI NGUYÊN nói riêng, việc nghiên cứu xây dựng chăm sóc cây Đinh mật và cây Gù hương là cần thiết và có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn. Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.
Tính cấp thiết của đề tài Đinh mật (Fernandoa brillettii Dop), thuộc họ - Fernandoa, là một trong những loài thực vật có chất lượng của gỗ bền, chắc, không bị mối mọt cong vênh nên rất được ưa chuộng trong ngành gỗ. Đặc biệt để đóng đồ nội thất, làm nhà ở, đóng tàu thuyền… những cây gỗ lớn trong tự nhiên đã bị khai thác triệt để. Gù hương (Cinnamomum balansae), thuộc họ - Long não Lauraceae Gỗ gù hương là dòng gỗ cao cấp, đặc biệt những loại gỗ có tuổi đời càng lâu Luan van 3 thì giá trị, chất lượng càng cao.Loại gỗ này thuộc nhóm I và đứng thứ 4 trong số 6 loại gỗ có mùi thơm quý hiếm.Trước khi biết khai thác gỗ của gù hương thì con người đã phát hiện ra gù hương còn có tác dụng rất lớn trong đời sống hàng ngày. Đó chính là dùng để chữa bệnh.
Rễ, thân cây dùng để trị cảm cúm, ăn uống đầy bụng khó tiêu, cảm mạo, viêm khớp, đau dạ dày, ho gà, kiết lỵ…Ngay đến lá cũng có tác dụng lớn trong việc chữa ngoại thương xuất huyết. Hoặc dùng quả để chữa bệnh sởi, dùng cho người bị sốt cao. “Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii ) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Đánh giá được khả năng sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii ) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư.
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của loài. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học Biết tầm quan trọng của loài thực vật có giá trị, cây gỗ lớn Đinh mật và cây gỗ Gù Hương. Trong quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, để giải quyết vấn đề khoa học thực tiễn.
Làm quen với một số phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. Để chăm sóc, gây trồng loài cây quý hiếm cũng là để bảo tồn loài cây Đinh mật và cây Gù Hương. Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa trong thực tiễn Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức đã được học, đồng thời làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm.
Thực hành thao tác được các Luan van 4 phương pháp nghiên cứu, điều tra sinh trưởng loài. Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng hiện nay; Tìm ra được biện pháp kỹ thuật gây trồng tốt nhất mang lại hiệu quả hữu hiệu nhất cho bà con trong quá trình chăm sóc gây trồng cây Đinh mật và cây Gù hương tại địa phương. Việc nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây Đinh mật và cây Gù hương để đề xuất một số giải pháp kỹ thuật gây trồng, phục vụ lợi ích của con người. Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của loài Đinh mật và cây Gù Hương tại khu vực nghiên cứu, tạo tiền đề cho việc chăm sóc, gây trồng loài cây này tại khu vực nghiên cứu.
Luan van 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Gù hương vốn là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ. Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm II) của Nghị định số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Đinh mật là một loại gỗ thuộc (nhóm II) là loài gỗ quý và cũng tái sinh kém bị chặt lấy gỗ.
Đinh mật là loại gỗ bền chắc không cong, vênh, mối mọt, được dùng trong xây dựng, làm nhà ở đóng tàu thuyền. Tuy nhiên, hiện nay thông tin về loài cây, thị trường lâm sản, các biện pháp kỹ thuật trong nhân giống và trồng rừng cây Đinh mật hầu như còn rất ít. Đây là cơ sở và căn cứ cho việc gây trồng cây Gù hương và cây Đinh mật nhằm phát triển, bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới cây Đinh mật Cấu trúc rừng: Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống hoà thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
Luan van 6 Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards, P. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng. (1964) [29] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinh cải thiện rừng.
Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot,R. (1987) [27] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. (1959, 1968, 1970) [28] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản.
Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây. (1960) [34] đã sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài. Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Peason, Poisson.cũng đã được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng.
Luan van 7 Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái. Cơ sở phân loại theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hướng phân loại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949).