Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hiền tập trung vào lĩnh vực Lâm nghiệp và Kỹ thuật lâm sinh thực nghiệm, giải quyết bài toán phục hồi hệ sinh thái rừng bằng nguồn gen cây bản địa thông qua phương thức bảo tồn chuyển vị. Rừng đóng vai trò trọng yếu trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai xói mòn và cung cấp dược liệu. Tuy nhiên, sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên trong những thập kỷ qua đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái thiết lớp phủ thực vật bền vững. Thực tiễn các chương trình trồng rừng tại Việt Nam thời gian trước đây chủ yếu tập trung vào các loài cây mọc nhanh nhập nội như Keo, Bạch đàn, Bồ đề nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế trước mắt, nhưng lại bộc lộ hạn chế lớn về tính bền vững sinh thái và khả năng cải thiện môi trường.
Trước yêu cầu bảo tồn các nguồn gen quý hiếm đang ngày càng thu hẹp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã triển khai xây dựng mô hình vườn thực vật cây bản địa tại Khoa Lâm nghiệp từ tháng 10 năm 2017. Mặc dù mô hình bước đầu được hình thành, nhưng ở giai đoạn đó vẫn chưa có công trình nghiên cứu định lượng nào theo dõi, đánh giá chi tiết tình hình sinh trưởng thực tế của các loài cây trồng. Do đó, đề tài được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ công tác chăm sóc, nhân rộng và bảo tồn.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể theo văn bản gồm hai nội dung:
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của 5 loài cây bản địa (Long não, Giổi, Sao đen, Ngọc am, Gù hương) trồng trong mô hình vườn cây bản địa tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
- Đề xuất được một số biện pháp nhằm phát triển cây bản địa trong mô hình vườn cây bản địa tại mô hình Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là 5 loài cây gỗ bản địa được gây trồng trong mô hình vườn thực vật:
- Long não (Cinnamomum camphora)
- Giổi (Michelia mediocris Dandy)
- Sao đen (Hopea odorata)
- Ngọc am (Cupressus funebris)
- Gù hương (Cinnamomum balansae Lecomte)
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các chỉ tiêu lâm học định lượng ở giai đoạn cây non: tỷ lệ sống, đường kính sát gốc ($D_{00}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), động thái ra lá và tình hình sâu bệnh hại. Không gian nghiên cứu thực hiện tại Vườn thực vật thuộc mô hình Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên (địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên). Thời gian theo dõi, thu thập số liệu thực địa diễn ra liên tục từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý luận về bảo tồn ngoại vi (ex-situ conservation), tức chuyển dời và bảo tồn các loài thực vật hoặc nguồn gen quý hiếm ra ngoài sinh cảnh tự nhiên vốn có vào các vườn thực vật, trạm thực nghiệm nhằm duy trì nguồn gen, phục vụ nghiên cứu và giáo dục. Về mặt pháp lý và bảo tồn, nghiên cứu liên hệ trực tiếp với các quy chuẩn bảo vệ loài nguy cấp: Gù hương (Cinnamomum balansae) được xếp ở cấp Đánh giá "Hiếm" (Bậc R) trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) và thuộc Nhóm IIA trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; cây Giổi cũng thuộc danh mục các loài quý hiếm trong Sách Đỏ đang cạn kiệt trong tự nhiên.
Về lý luận lâm sinh hỗn loài, tác giả tham chiếu 5 nguyên tắc phối hợp loài cây gỗ của Kolexnitsenko (1997) gồm: nguyên tắc kinh nghiệm, nguyên tắc kiểu lâm hình học, nguyên tắc lý sinh, nguyên tắc sinh vật dinh dưỡng và nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ. Đồng thời, văn bản tổng hợp các nghiên cứu tiền đề về trồng rừng hỗn loài và trồng cây bản địa dưới tán rừng của Maurand (1931), Nguyễn Bá Chất (1976, 1994), Phạm Xuân Hoàn (2002), Hoàng Văn Thắng (2005) và Lê Minh Cường (2007).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua các bước:
- Thiết kế bố trí thí nghiệm: Khu vực trồng được phân lô bằng thước dây và cọc tiêu mốc với cự ly trồng $3\text{ m} \times 3\text{ m}$, kích thước hố đào $30\text{ cm} \times 30\text{ cm} \times 30\text{ cm}$. Phương thức bố trí là trồng theo đám xen kẽ giữa các loài khác nhau để tạo mô hình rừng cảnh quan.
- Phương pháp mã hóa cây: Toàn bộ cây nghiên cứu được đeo thẻ nhựa gắn mã số ở từng hàng. Mã định danh sử dụng hai chữ cái đầu của tên chi trong danh pháp khoa học: Ca (Long não - Cinnamomum camphora), Mi (Giổi - Michelia mediocris), Ho (Sao đen - Hopea odorata), Cu (Ngọc am - Cupressus funebris), Ba (Gù hương - Cinnamomum balansae).
- Dung lượng mẫu khảo nghiệm: Tổng cộng 137 cá thể cây, bao gồm 19 cây Long não, 25 cây Giổi, 45 cây Sao đen, 18 cây Ngọc am và 30 cây Gù hương.
- Quy trình thu thập dữ liệu: Dữ liệu được đo đếm định kỳ 30 ngày một lần, phân chia thành 5 đợt quan trắc chính xác vào ngày 10 hàng tháng (Đợt 1: 10/01/2018; Đợt 2: 10/02/2018; Đợt 3: 10/03/2018; Đợt 4: 10/04/2018; Đợt 5: 10/05/2018). Giám sát tình hình sâu bệnh hại được thực hiện với tần suất 5 ngày một lần.
- Đường kính sát gốc ($D_{00}$): Đo bằng thước kẹp cơ khí sát cổ rễ theo hai chiều vuông góc Đông - Tây và Nam - Bắc, sau đó lấy trị số bình quân.
- Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$): Dùng bút xóa trắng đánh dấu một đường mốc chuẩn ở gốc cây, sử dụng thước dây đo khoảng cách từ mốc chuẩn đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của ngọn cây.
- Động thái ra lá: Đếm toàn bộ số lá thật xuất hiện trên từng cá thể qua mỗi lần đo đối với 4 loài cây lá rộng; riêng loài Ngọc am là thực vật hạt trần mang hình thái lá kim dạng vảy nhỏ áp sát cành nên không áp dụng phương pháp đếm lá.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê toán học trong lâm nghiệp, áp dụng các công thức:
- Tỷ lệ sống: $C% = \frac{n}{N} \times 100$ (trong đó $n$ là số cây sống, $N$ là tổng số cây trồng trong mô hình).
- Trị số trung bình mẫu: $\bar{x} = \frac{1}{n}\sum_{i=1}^n x_i$.
- Sai tiêu chuẩn: $S = \sqrt{\frac{1}{n-1}\sum_{i=1}^n (x_i - \bar{x})^2}$.
- Hệ số biến động: $S% = \frac{S}{\bar{x}} \times 100$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn và gây trồng cây rừng bản địa trong bối cảnh diện tích rừng tự nhiên bị tàn phá và các mô hình rừng trồng thuần loài bằng cây mọc nhanh bộc lộ nhiều điểm yếu về môi trường. Tác giả chỉ ra rằng tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dù đã triển khai mô hình vườn thực vật nhưng hoàn toàn thiếu các nghiên cứu định lượng về khả năng sinh trưởng của các loài cây mục đích. Chương này xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu, đóng góp học tập trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh, cùng ý nghĩa thực tiễn sản xuất trong việc lựa chọn loài cây gỗ bản địa phù hợp để kiến tạo cảnh quan sinh thái và vườn thực vật.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan làm rõ cơ sở lý thuyết của biện pháp chuyển vị và xây dựng vườn thực vật ngoại vi nhằm bảo tồn nguồn gen nguy cấp. Tác giả tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trồng rừng hỗn loài trên thế giới (tại Malaysia, Đức, Đan Mạch, Costa Rica, Nigeria, Congo...) và trong nước (các nghiên cứu tại Trảng Bom - Đồng Nai, Sông Hiếu, Tây Nguyên, Núi Luốt - Đại học Lâm nghiệp, Đại Lải - Vĩnh Phúc).
Bên cạnh đó, chương này phân tích sâu đặc tính sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của 5 loài cây khảo nghiệm:
- Long não (Cinnamomum camphora): Cây gỗ lớn cao tới 40 m, đường kính 200 cm, ưa khí hậu ấm ẩm, gỗ chịu nước chống mối mọt, lá hấp thụ ion kim loại nặng (chì), tinh dầu chứa hoạt chất camphor và safrol ứng dụng trong y dược và công nghiệp.
- Giổi (Michelia mediocris): Cây thân thẳng, cao 30-40 m, gỗ mịn có mùi thơm không mối mọt, hạt làm gia vị và thuốc chữa bệnh với giá trị kinh tế thương phẩm đạt 1,5 triệu đồng/kg hạt khô.
- Sao đen (Hopea odorata): Cây gỗ cao 30-40 m, lúc non chịu bóng, từ 3-4 tuổi chuyển sang ưa sáng hoàn toàn, gỗ đóng tàu thuyền toa xe, nhựa dùng làm sơn bóng.
- Ngọc am (Cupressus funebris): Phân bố ở vùng núi đá vôi Hà Giang, Lạng Sơn ở độ cao 400-1500 m, lá áp ép dày đặc dài 1-2 mm, gỗ và tinh dầu có hương thơm đặc trưng, xua đuổi côn trùng, làm chậm lão hóa da.
- Gù hương (Cinnamomum balansae): Loài đặc hữu của Việt Nam, cao tới 50 m, tái sinh tự nhiên kém, gỗ tròn có giá trị cao từ 20-25 triệu đồng/m³, tinh dầu xá xị có giá trị thương mại lớn (từng đạt 1 triệu đồng/lít, tương đương 2 chỉ vàng).
Cuối chương, tác giả khái quát điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên: Đất đai thuộc nhóm đất feralit phát triển trên đá sa thạch, kết cấu chặt, màu xám đen pha cát lẫn đá nhỏ, nghèo mùn, đất chua, hàm lượng lân thấp do tích lũy nhiều nhôm và sắt; khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa chia làm 4 mùa rõ rệt với mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày hệ thống đối tượng (137 cây thuộc 5 loài), địa điểm (Vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp) và khung thời gian quan trắc từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp phân lô $3\text{ m} \times 3\text{ m}$, quy cách đào hố $30\text{ cm} \times 30\text{ cm} \times 30\text{ cm}$, phương pháp mã hóa thẻ nhựa (Ca, Mi, Ho, Cu, Ba). Trình bày thiết kế phiếu điều tra, các mốc đo đạc định kỳ 30 ngày/lần, chu kỳ kiểm tra sâu bệnh 5 ngày/lần, cùng bộ công thức tính toán toán học thống kê mô tả ($C%$, $\bar{x}$, $S$, $S%$) xử lý bằng phần mềm Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này công bố và phân tích hệ thống số liệu thực nghiệm sau 5 đợt đo đạc:
- Đánh giá quy mô phân lô và điều kiện tiểu hoàn cảnh của mô hình.
- Tỷ lệ sống: Đạt 100% ở toàn bộ 5 loài cây sau 7 tháng gây trồng (tính từ tháng 10/2017 đến tháng 05/2018).
- Sinh trưởng đường kính gốc ($D_{00}$): Bảng số liệu tổng hợp phản ánh quá trình tăng trưởng liên tục qua các tháng, sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các loài và xu hướng suy giảm của hệ số biến động $S%$.
- Phân tích động thái tăng trưởng đường kính gốc theo mùa: Trong hai đợt đo đầu (tháng 1 đến tháng 3), mức tăng trưởng đạt bình quân khoảng 0,05 cm/tháng; từ đợt đo thứ 3 đến đợt thứ 5 (tháng 3 đến tháng 5, bước vào mùa mưa), tốc độ tăng trưởng tăng gấp đôi, đạt bình quân 0,1 cm/tháng.
- Nhận định chung về mô hình và đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh: chăm sóc xới xáo, làm cỏ, bón phân cải tạo độ phì cho đất feralit nghèo mùn và theo dõi kiểm soát sâu bệnh hại định kỳ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận các chỉ số định lượng cụ thể về sinh trưởng của 5 loài cây bản địa tại mô hình thực nghiệm:
| STT |
Tên loài cây |
Số cây theo dõi (cây) |
Tỷ lệ sống (%) |
$D_{00}$ lần 1 (cm) |
$D_{00}$ lần 5 (cm) |
Lượng tăng trưởng $D_{00}$ (cm) |
$S%$ lần 1 (%) |
$S%$ lần 5 (%) |
| 1 |
Long não |
19 |
100% |
0,205 |
0,434 |
0,229 |
17,964% |
11,549% |
| 2 |
Giổi |
25 |
100% |
0,114 |
0,360 |
0,246 |
32,329% |
10,608% |
| 3 |
Sao đen |
45 |
100% |
0,382 |
0,632 |
0,250 |
32,062% |
19,890% |
| 4 |
Ngọc am |
18 |
100% |
0,122 |
0,339 |
0,217 |
35,001% |
18,632% |
| 5 |
Gù hương |
30 |
100% |
0,127 |
0,377 |
0,250 |
36,991% |
21,414% |
Các kết quả chính bao gồm:
- Tỷ lệ sống: Đạt tuyệt đối 100% ở tất cả 137 cây khảo nghiệm thuộc cả 5 loài. Nguyên nhân được xác định do thời vụ trồng thích hợp (tháng 10/2017 có lượng mưa và độ ẩm cao), chất lượng cây con ban đầu tốt và được chăm sóc chu đáo trong khuôn viên trường.
- Động thái tăng trưởng đường kính gốc ($D_{00}$): Sao đen và Gù hương là hai loài có lượng tăng trưởng đường kính gốc tuyệt đối cao nhất sau 5 đợt đo (cùng đạt 0,250 cm), tiếp đến là Giổi (0,246 cm), Long não (0,229 cm) và thấp nhất là Ngọc am (0,217 cm). Về giá trị tuyệt đối tại lần đo 5, Sao đen đạt đường kính gốc lớn nhất ($0,632\text{ cm}$), kế tiếp là Long não ($0,434\text{ cm}$), Gù hương ($0,377\text{ cm}$), Giổi ($0,360\text{ cm}$) và Ngọc am ($0,339\text{ cm}$).
- Quy luật phân hóa cá thể: Hệ số biến động ($S%$) của đường kính gốc ở cả 5 loài đều có xu hướng giảm liên tục qua các đợt đo (Long não từ 17,964% xuống 11,549%; Giổi từ 32,329% xuống 10,608%; Sao đen từ 32,062% xuống 19,890%; Ngọc am từ 35,001% xuống 18,632%; Gù hương từ 36,991% xuống 21,414%). Điều này phản ánh các cây trồng thích nghi tốt với lập địa mới và bước vào giai đoạn sinh trưởng tương đối đồng đều.
Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh do tác giả đề xuất:
- Về biện pháp chăm sóc đất: Do đất đai tại mô hình là đất feralit chua, kết cấu chặt, nghèo mùn và cố định lân kém, cần tăng cường bón lót phân vi sinh hoặc phân hữu cơ ủ hoai mục, đồng thời định kỳ xới đất, làm cỏ quanh gốc để tăng độ thoáng khí cho rễ.
- Về biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng: Cần duy trì cự ly $3\text{ m} \times 3\text{ m}$ trong giai đoạn đầu, sau đó theo dõi tán cây để có biện pháp tỉa thưa, điều chỉnh ánh sáng thích hợp khi các loài ưa sáng (Sao đen, Giổi) vươn lên tầng trên.
- Quản lý sâu bệnh: Giữ vững lịch trình kiểm tra 5 ngày một lần để phát hiện sớm các đối tượng sâu ăn lá, sâu đục thân nhằm xử lý kịp thời, tránh lây lan trong mô hình.
Đóng góp của nghiên cứu: Đây là nghiên cứu định lượng thực nghiệm đầu tiên cung cấp chuỗi số liệu theo dõi chi tiết về tỷ lệ sống và biến động đường kính gốc của 5 loài cây bản địa quý hiếm trong vườn thực vật của Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tạo tiền đề khoa học cho việc quản lý mô hình và nghiên cứu nhân giống chuyển vị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực tế được văn bản phản ánh:
- Thời gian theo dõi thực địa tương đối ngắn, chỉ kéo dài trong 5 tháng (từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018), tương ứng với giai đoạn cây non 7 tháng tuổi tính từ thời điểm trồng. Khoảng thời gian này chưa đủ dài để đánh giá toàn diện chu kỳ sinh trưởng qua các mùa khô khắc nghiệt của nhiều năm.
- Số lượng cây khảo nghiệm ở một số loài còn ít (Ngọc am có 18 cây, Long não có 19 cây) do phụ thuộc vào quỹ đất và số lượng cây hiện hữu được bố trí tại mô hình thực nghiệm của trường.
- Đặc điểm giải phẫu lá của loài Ngọc am (lá kim vảy nhỏ) khiến phương pháp đếm lá thông thường không thể áp dụng, làm thiếu hụt chỉ tiêu so sánh động thái ra lá của loài này với 4 loài lá rộng còn lại.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục duy trì quan sát định kỳ các chỉ tiêu $D_{00}$, $H_{vn}$ và bổ sung đo đạc đường kính tán ($D_t$) trong các năm tiếp theo khi cây bước vào giai đoạn khép tán (từ 2 đến 5 năm tuổi).
- Đánh giá khả năng cạnh tranh dinh dưỡng và tương tác rễ - tán giữa các loài cây trồng theo đám xen kẽ trên nền đất feralit nghèo mùn tại Thái Nguyên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật khi tìm hiểu phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa, kỹ thuật mã hóa cây con bằng mã nhựa hai chữ cái và quy trình đo đếm các chỉ tiêu lâm sinh ($D_{00}$, $H_{vn}$) bằng công cụ chuyên dụng.
- Cán bộ kỹ thuật phụ trách các vườn thực vật, trạm thực nghiệm giống lâm nghiệp, hoặc các khu bảo tồn thiên nhiên đang thực hiện chương trình bảo tồn chuyển vị các loài nguy cấp như Gù hương, Giổi, Ngọc am.
- Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là hệ thống tổng quan tài liệu về kỹ thuật trồng rừng hỗn loài trong và ngoài nước, cùng bảng dữ liệu định lượng chi tiết phản ánh mức độ giảm dần của hệ số biến động ($S%$) theo thời gian thích nghi của cây bản địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Năm loài cây bản địa khảo nghiệm trong khóa luận gồm những loài nào và số lượng cá thể theo dõi là bao nhiêu?
Nghiên cứu theo dõi 5 loài cây bản địa với tổng số 137 cây, bao gồm: 19 cây Long não (Cinnamomum camphora), 25 cây Giổi (Michelia mediocris), 45 cây Sao đen (Hopea odorata), 18 cây Ngọc am (Cupressus funebris) và 30 cây Gù hương (Cinnamomum balansae).
2. Tỷ lệ sống của các loài cây trong mô hình đạt bao nhiêu phần trăm sau 5 tháng quan trắc?
Tỷ lệ sống của cả 5 loài cây bản địa đạt tuyệt đối 100% qua cả 5 đợt đo đạc, không có cây nào bị chết (tổng số 137 cây sống trên 137 cây trồng). Kết quả này đạt được nhờ thời vụ trồng thuận lợi vào tháng 10/2017 khi độ ẩm và lượng mưa cao, nguồn giống tốt và điều kiện chăm sóc đầy đủ.
3. Loài cây nào có tốc độ tăng trưởng đường kính gốc ($D_{00}$) lớn nhất trong thời gian nghiên cứu?
Sao đen và Gù hương là hai loài đạt lượng tăng trưởng đường kính gốc tuyệt đối cao nhất sau 5 đợt đo, cùng tăng 0,250 cm (Sao đen tăng từ 0,382 cm lên 0,632 cm; Gù hương tăng từ 0,127 cm lên 0,377 cm). Về độ lớn tuyệt đối ở lần đo cuối cùng, Sao đen dẫn đầu với đường kính gốc đạt 0,632 cm.
4. Tại sao tác giả không thực hiện đếm số lượng lá đối với loài cây Ngọc am?
Do Ngọc am (Cupressus funebris) là loài cây lá kim có hình thái lá áp ép dày đặc, xếp lợp dạng vảy với kích thước rất nhỏ (chỉ dài 1-2 mm ở chồi non), không phân chia thành các phiến lá đơn riêng biệt như các loài cây lá rộng (Long não, Giổi, Sao đen, Gù hương) nên phương pháp đếm thủ công không thể thực hiện được.
5. Điều kiện đất đai tại khu vực nghiên cứu có đặc điểm gì ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con?
Đất tại khu vực vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp là đất feralit nâu vàng phát triển trên đá sa thạch, đất có kết cấu chặt, màu xám đen pha cát lẫn đá nhỏ, độ pH thấp (đất chua), nghèo mùn, tích lũy nhiều sắt và nhôm, khả năng cố định lân kém khiến hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp. Điều kiện này đòi hỏi phải bổ sung phân bón và xới xáo cải tạo độ phì để hỗ trợ cây con sinh trưởng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hiền đã hoàn thành mục tiêu đánh giá định lượng tình hình sinh trưởng của 5 loài cây bản địa quý hiếm (Long não, Giổi, Sao đen, Ngọc am, Gù hương) trong mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên giai đoạn đầu sau khi trồng. Kết quả thực nghiệm cho thấy cả 5 loài đều thích nghi tốt với điều kiện lập địa địa phương, đạt tỷ lệ sống tuyệt đối 100% và tăng trưởng đường kính gốc ổn định với hệ số biến động giảm dần qua thời gian, trong đó Sao đen và Gù hương thể hiện mức độ tăng trưởng vượt trội. Công trình cung cấp chuỗi số liệu thực tế có giá trị phục vụ công tác quản lý kỹ thuật lâm sinh tại chỗ, đồng thời đóng góp cơ sở dữ liệu hữu ích cho hoạt động bảo tồn chuyển vị các loài cây rừng bản địa nguy cấp tại Việt Nam.