Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây Vầu đắng có tên khoa học là Indosasa angustata Mc. Clure, thuộc phân họ Tre trúc (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae). Đây là loài tre trúc bản địa mọc tản không gai, thân ngầm dạng roi bò lan trong đất, có kích thước thân khí sinh lớn và phân bố tự nhiên tập trung tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên. Vầu đắng là loài cây đa tác dụng có giá trị kinh tế và phòng hộ cao: thân khí sinh được sử dụng làm vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất bột giấy, ván ghép thanh, đũa, tăm xuất khẩu và chế biến than hoạt tính; măng Vầu đắng là nguồn lâm sản ngoài gỗ có giá trị thực phẩm được thị trường ưa chuộng. Rừng Vầu đắng thường là rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ nguyên sinh bị tác động, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, điều hòa nguồn nước và cải thiện sinh kế cho đồng bào vùng cao.
Tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, tổng diện tích rừng tự nhiên đạt 56.805,83 ha với độ che phủ rừng đạt 66%. Trữ lượng tre nứa toàn huyện đạt khoảng 34.425 nghìn cây, tập trung nhiều nhất ở các xã Vũ Loan (5.180 nghìn cây), Kim Lư (5.988 nghìn cây) và Cư Lễ. Tuy nhiên, diện tích rừng Vầu đắng trên địa bàn huyện đang suy giảm nghiêm trọng: nếu năm 2000 diện tích rừng Vầu đắng đạt 756,03 ha thì đến năm 2014 chỉ còn lại 463,08 ha. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng phá rừng làm nương rẫy, chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang trồng cây công nghiệp, kỹ thuật khai thác măng và thân cây còn tùy tiện, người dân chưa thể sống dựa vào nghề rừng do thu nhập thấp. Bên cạnh đó, các nghiên cứu tại địa phương trước đây chỉ dừng lại ở việc thừa nhận giá trị kinh tế và phòng hộ thông thường, thiếu các đánh giá khoa học có hệ thống về cấu trúc quần xã, đặc tính sinh học, khả năng hấp thụ $\text{CO}_2$ làm căn cứ cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Do đó, việc thực hiện đề tài là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý, phục tráng và kinh doanh bền vững loài cây này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Xác định được đặc điểm sinh thái (hình thái thân khí sinh, cành chét, lá, mo, thân ngầm, rễ, hoa quả) và mối quan hệ giữa sinh trưởng của Vầu đắng với các nhân tố khí hậu, lập địa tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá hiện trạng diện tích và quy luật phân bố không gian của rừng Vầu đắng ở các tiểu sinh cảnh tự nhiên tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh, phục tráng, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng Vầu đắng tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) ở các cấp tuổi khác nhau.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm sinh thái học, hình thái học và phân bố của các lâm phần rừng Vầu đắng mọc thuần loài.
- Phạm vi không gian: Tiến hành điều tra thực địa tại 03 xã có diện tích rừng Vầu đắng thuần loài tập trung lớn nhất huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, gồm xã Vũ Loan, xã Kim Lư và xã Cư Lễ.
- Phạm vi thời gian: Các hoạt động điều tra, thu thập số liệu ngoại nghiệp được thực hiện từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 5 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về sinh thái học quần thể và cấu trúc rừng nhiệt đới. Cấu trúc rừng phản ánh quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật theo không gian ba chiều (mặt phẳng đứng biểu hiện sự phân tầng, mặt phẳng ngang biểu hiện mật độ và mạng hình phân bố). Khóa luận kế thừa các công trình nghiên cứu phân loại và sinh thái tre trúc của Munro (1868), Gamble (1896), FAO (2005); các kết quả phân loại của Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000), Vũ Dũng và Lê Viết Lâm (2001, 2004); các nghiên cứu về sinh thái học và lập địa của Ngô Quang Đê (1994, 2003), Trần Xuân Thiệp (1994), Triệu Văn Hùng (2002), Trần Ngọc Hải (2012) và nghiên cứu giá trị kinh tế của Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân (2004). Khung phân chia điều kiện lập địa và khí hậu dựa trên Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam (2005) và phương pháp xác định chỉ số khí hậu của Vương Văn Quỳnh và cộng sự (1996).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra ngoại nghiệp lâm sinh truyền thống, kế thừa tài liệu lưu trữ tại địa phương và tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng bản địa. Do Vầu đắng là loài tre trúc mọc tản không hình thành vòng năm như cây gỗ, khóa luận áp dụng phương pháp phân chia cấp tuổi định lượng kết hợp kinh nghiệm bản địa thành 3 cấp tuổi (chu kỳ 2 năm một cấp tuổi):
- Cấp tuổi 1 (1 - 2 tuổi): Cây non, vỏ thân màu xanh phủ nhiều lông tơ trắng, thịt thân màu trắng nhiều nước, rễ khí sinh chưa hoặc mới chạm đất, gõ sống dao tiếng kêu hơi đanh.
- Cấp tuổi 2 (3 - 4 tuổi): Cây trung bình, vỏ màu xanh xám xuất hiện lốm đốm mảng địa y trắng mốc, thịt cây màu hồng nhạt, rễ khí sinh ăn xuống đất, gõ sống dao tiếng kêu đanh.
- Cấp tuổi 3 (trên 4 tuổi): Cây già, vỏ phủ kín địa y mốc trắng, thịt cây chuyển màu trắng hồng hoặc khô, rễ khí sinh bám chắc vào đất.
Hệ thống phương pháp thu thập dữ liệu thực địa gồm:
- Phương pháp điều tra cấu trúc lâm phần: Thiết lập 9 ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích $1.000\text{ m}^2$ (kích thước $20\text{ m} \times 50\text{ m}$ hoặc $25\text{ m} \times 40\text{ m}$) tại 3 xã (mỗi xã 3 OTC đại diện cho 3 cấp mật độ: dưới 3.000 cây/ha, 3.000 - 5.000 cây/ha và trên 5.000 cây/ha). Trong từng OTC, đo đếm toàn bộ số cây, xác định đường kính tại vị trí $1,3\text{ m}$ ($D_{1.3}$) bằng thước dây đo chu vi, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước sào chuyên dụng.
- Phương pháp giải đoán hình thái các cơ quan:
- Bề dày vách thân khí sinh: Chặt hạ ngẫu nhiên 10 cây tiêu chuẩn tại mỗi xã (tổng số 30 cây thí nghiệm), sử dụng thước kẹp đo độ dày vách thân tại 3 vị trí: sát gốc ($1,3\text{ m}$), giữa thân ($5\text{ m}$) và ngọn ($10\text{ m}$).
- Cành chét: Điều tra 40 cành chét tại mỗi xã ở các vị trí phân cành, xác định đường kính cành ($D$), chu vi cành ($H_l$) bằng thước kẹp có độ chính xác $0,1\text{ cm}$.
- Lá: Thu thập và đo đếm 50 lá bánh tẻ tại mỗi xã (phân bố theo 3 cấp tuổi: cấp 1 lấy 17 lá, cấp 2 lấy 17 lá, cấp 3 lấy 16 lá ở 3 vị trí tán cành), đo chiều rộng lá ($R_L$) và chiều dài lá ($L_l$).
- Mo thân: Thu thập 50 mo mới rụng hoặc sắp rụng tại mỗi xã ở các độ cao $1,3\text{ m}$, $5\text{ m}$ và $10\text{ m}$, xác định chiều rộng mo ($R_{mo}$) và chiều cao mo ($H_{mo}$).
- Thân ngầm và rễ: Đào giải phẫu các cụm thân ngầm điển hình, đếm số đốt, đo chiều dài đốt, đường kính thân ngầm và xác định vùng phân bố độ sâu của hệ thống rễ.
- Phương pháp điều tra lập địa và đất đai: Đào phẫu diện đất kích thước $70 - 90\text{ cm} \times 120 - 150\text{ cm}$, sâu đến tầng đá mẹ (tối thiểu $150 - 200\text{ cm}$ nếu lớp mẫu chất dày) để xác định loại đất, tầng dày, thành phần cơ giới; sử dụng máy GPS đo tọa độ, độ cao tuyệt đối và địa bàn lâm học đo độ dốc.
Phương pháp xử lý số liệu:
Dữ liệu được xử lý thống kê toán học lâm nghiệp theo tài liệu của Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (2005, 2006) bằng phần mềm Microsoft Excel, R và SPSS. Các tham số thống kê gồm giá trị trung bình mẫu ($\bar{x}$), sai tiêu chuẩn ($S$), hệ số biến động ($S%$). Mật độ cây trên hecta ($N_c$) và số khóm ($N_k$) được ngoại suy từ diện tích ô tiêu chuẩn ($S$):
$$N_c = \frac{n_c \times 10.000}{S}$$
Để đánh giá tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái lập địa (đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, độ dốc, độ tàn che) tới sinh trưởng đường kính và chiều cao, tác giả áp dụng phương pháp Phân tích hệ số đường ảnh hưởng (HSĐAH). Kiểm tra phương sai mẫu bằng tiêu chuẩn Levene và so sánh cặp đôi bằng tiêu chuẩn Duncan hoặc Bonferroni.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị thực tiễn đa dạng của loài Vầu đắng đối với đời sống kinh tế xã hội vùng cao và chức năng phòng hộ đầu nguồn. Khóa luận nêu rõ thực trạng suy giảm diện tích rừng Vầu đắng tại huyện Na Rì từ 756,03 ha (năm 2000) xuống 463,08 ha (năm 2014) do áp lực chuyển đổi đất nương rẫy và canh tác nương rẫy thoái hóa. Phần này xác định mục tiêu nghiên cứu, đóng góp khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu sinh thái cho phân họ Tre trúc mọc tản, đồng thời nêu rõ ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở kỹ thuật phục vụ giao đất khoán rừng và thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Bắc Kạn.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần tổng quan tổng hợp các công trình nghiên cứu tre trúc trong và ngoài nước. Về phân loại, tác giả hệ thống hóa quá trình xác lập tên khoa học của Vầu đắng từ Indosasa sinica C. Chao sang Indosasa angustata Mc. Clure. Về sinh thái học, tài liệu khẳng định Vầu đắng là loài chịu bóng mạnh (độ tàn che 0,8 - 0,9), phân bố ở dải nhiệt độ trung bình 21 - 23,5°C, lượng mưa từ 1.600 - 2.000 mm/năm, đất phong hóa từ đá phiến sét, phiến mica có pH từ 3,2 - 4,6. Về tổng quan khu vực nghiên cứu, huyện Na Rì có diện tích 85.300 ha, địa hình cánh cung Ngân Sơn dốc từ Tây Nam sang Đông Bắc, độ cao 250 - 1.193 m, mạng lưới thủy văn gồm sông Bắc Giang và sông Na Rì. Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 66.949,96 ha (rừng sản xuất chiếm 64,14%, rừng phòng hộ 19,04%, rừng đặc dụng 16,82%). Dân số huyện đạt 37.000 người, tỷ lệ nghèo năm 2013 chiếm 41,90%, nguồn lao động nông - lâm nghiệp chiếm 48,60%.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng là loài Indosasa angustata Mc. Clure tại 3 xã Vũ Loan, Kim Lư, Cư Lễ. Tác giả trình bày logic tiếp cận liên ngành và có sự tham gia của người dân bản địa. Hệ thống phương pháp được xây dựng chặt chẽ từ kế thừa bản đồ địa hình, bản đồ lập địa, bố trí mạng lưới 9 OTC diện tích $1.000\text{ m}^2$, phương pháp giải phẫu hình thái học các cơ quan thân, cành, lá, mo, thân ngầm, rễ, hoa quả, đến các công thức toán xác suất thống kê lâm sinh và phương pháp phân tích hệ số đường ảnh hưởng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả thể hiện toàn bộ các số liệu định lượng thu thập từ 9 OTC và 30 cây tiêu chuẩn tại huyện Na Rì qua các bảng tổng hợp chi tiết:
Bảng 1: Sinh trưởng đường kính ($D_{1.3}$) và chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) theo cấp tuổi tại 3 xã
| Địa bàn (xã) |
$D_{1.3}$ Cấp 1 (cm) |
$D_{1.3}$ Cấp 2 (cm) |
$D_{1.3}$ Cấp 3 (cm) |
$H_{vn}$ Cấp 1 (m) |
$H_{vn}$ Cấp 2 (m) |
$H_{vn}$ Cấp 3 (m) |
| Vũ Loan |
8,42 |
8,28 |
7,67 |
14,73 |
12,50 |
13,57 |
| Cư Lễ |
8,38 |
6,43 |
6,63 |
13,55 |
13,18 |
14,25 |
| Kim Lư |
5,92 |
6,53 |
6,23 |
9,38 |
12,64 |
10,00 |
| Trung bình |
7,58 |
7,08 |
6,84 |
12,55 |
12,77 |
12,60 |
Bảng 2: Bề dày vách thân khí sinh của cây Vầu đắng theo vị trí chiều cao
| Khu vực (xã) |
Số cây mẫu |
Vị trí 1,3 m (cm) |
Vị trí 5,0 m (cm) |
Vị trí 10,0 m (cm) |
Trung bình (cm) |
| Vũ Loan |
10 |
1,16 |
0,92 |
0,64 |
0,91 |
| Kim Lư |
10 |
1,07 |
0,84 |
0,62 |
0,84 |
| Cư Lễ |
10 |
1,15 |
0,91 |
0,62 |
0,89 |
| Trung bình |
30 |
1,13 |
0,89 |
0,62 |
0,88 |
Bảng 3: Đặc điểm kích thước cành chét của Vầu đắng tại 3 khu vực điều tra
| Khu vực (xã) |
Tổng số cành |
Đường kính $D$ (cm) |
Hệ số $S_R$ (%) |
Chu vi cành $H_l$ (cm) |
Hệ số $S_H$ (%) |
| Kim Lư |
40 |
1,15 |
1,20 |
0,37 |
0,38 |
| Vũ Loan |
40 |
1,16 |
1,47 |
0,37 |
0,47 |
| Cư Lễ |
40 |
1,14 |
1,00 |
0,36 |
0,31 |
Bảng 4: Đặc điểm hình thái lá cây Vầu đắng tại khu vực nghiên cứu
| Khu vực (xã) |
Tổng số lá |
Chiều rộng $R_L$ (cm) |
Hệ số $S_{Rl}$ (%) |
Chiều dài $L_l$ (cm) |
Hệ số $S_{Ll}$ (%) |
| Vũ Loan |
50 |
2,95 |
4,42 |
28,33 |
22,50 |
| Kim Lư |
50 |
2,46 |
14,45 |
25,50 |
95,04 |
| Cư Lễ |
50 |
2,52 |
12,12 |
27,57 |
89,90 |
Bảng 5: Đặc điểm kích thước mo thân cây Vầu đắng
| Khu vực (xã) |
Tổng số mo |
Chiều rộng $R_{mo}$ (cm) |
Hệ số $S_{Rmo}$ (%) |
Chiều cao $H_{mo}$ (cm) |
Hệ số $S_{Hmo}$ (%) |
| Vũ Loan |
50 |
20,61 |
15,75 |
31,50 |
26,53 |
| Cư Lễ |
50 |
18,81 |
17,46 |
29,44 |
31,42 |
| Kim Lư |
50 |
18,40 |
20,16 |
30,08 |
28,00 |
Bảng 6: Mối quan hệ giữa điều kiện khí hậu và sinh trưởng Vầu đắng theo vùng sinh thái
| Địa bàn xã |
Nhiệt độ TB (°C) |
Lượng mưa TB (mm/năm) |
Độ ẩm TB (%) |
$D_{1.3}$ năm 2 (cm) |
$S_{D1.3}$ (%) |
$H_{vn}$ năm 2 (m) |
$S_{Hvn}$ (%) |
| Vũ Loan |
22 |
1.600 - 2.000 |
86 - 90 |
8,28 |
30,80 |
12,50 |
33,14 |
| Cư Lễ |
23 |
1.500 - 1.800 |
85 - 87 |
6,53 |
27,19 |
12,64 |
40,00 |
| Kim Lư |
23 |
1.600 - 1.900 |
85 - 89 |
6,43 |
29,50 |
13,18 |
34,62 |
Về giải phẫu thân ngầm: Thân ngầm Vầu đắng là dạng thân đơn trục bò lan trong đất ở độ sâu 20 - 40 cm, có 10 - 12 đốt, chiều dài lóng trung bình 5,66 cm, đường kính thân ngầm từ 0,9 - 2,4 cm (trung bình 2 cm). Quá trình hóa già của thân ngầm chia làm 5 cấp tuổi biểu hiện qua màu sắc từ trắng ngà (tuổi 1), trắng vàng (tuổi 2), vàng nhạt (tuổi 3), vàng sẫm đặc ruột (tuổi 4) đến nâu vàng hóa gỗ tiêu biến rễ (tuổi 5). Hệ rễ ăn nông, tập trung mật độ dày đặc ở tầng đất mặt từ 0 - 20 cm rồi giảm dần theo độ sâu. Hoa Vầu đắng là cụm hoa chùy tròn mang bông nhỏ, xuất hiện chu kỳ khuy trên 50 năm; sau khi khuy toàn bộ cây ra hoa kết quả rồi chết hàng loạt.
Về quy luật phân bố không gian: Trong phạm vi diện tích hẹp $25\text{ m}^2$ ở các tiểu sinh cảnh bất lợi (ven suối xói lở, sườn đồi nhiều đá lẫn lộ đầu, bìa rừng), thân khí sinh có kiểu phân bố cụm. Khi mở rộng diện tích OTC lên $100 - 400\text{ m}^2$, cấu trúc không gian của rừng Vầu đắng tự nhiên thể hiện phân bố ngẫu nhiên. Cây mọc hỗn giao với các loài cây gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Re (Lauraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae); thảm tươi chỉ thị cho rừng Vầu đắng ổn định là cây Lá dong (Phrynium placentarium), Thiên niên kiện (Homalomena occulta), Sa nhân (Amomum villosum) và các loài song mây.
Về đề xuất kỹ thuật lâm sinh: Tác giả kiến nghị các biện pháp kỹ thuật phục tráng rừng thoái hóa bằng cách cuốc xới đất toàn diện bề mặt, đào bỏ hệ thống thân ngầm và gốc cây già cỗi, bón lót phân hữu cơ hoai mục và bổ sung vôi bột khử chua; thời vụ khai thác thân khí sinh tốt nhất vào đầu mùa khô (tháng 10 đến tháng 12); chỉ chặt tỉa cây từ 4 tuổi trở lên, giữ lại mật độ ổn định 6.000 cây/ha; khai thác 50% số lượng măng nhú khỏi mặt đất làm thực phẩm để điều tiết mật độ mà không làm tổn hại lâm phần; tận dụng toàn bộ phế phụ phẩm (gốc, ngọn, ruột) làm than hoạt tính xuất khẩu hoặc nguyên liệu bột giấy để hạn chế ô nhiễm môi trường.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết 7 kết luận kỹ thuật cốt lõi về đặc điểm hình thái thân, vách thân, lá, mo, thân ngầm, rễ, hoa quả và điều kiện sinh thái thích hợp của loài. Phần đề nghị nhấn mạnh yêu cầu cần mở rộng quy mô không gian và kéo dài thời gian theo dõi qua nhiều chu kỳ sinh trưởng để hoàn thiện cơ sở dữ liệu lâm học loài Vầu đắng.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Khóa luận đã định lượng hóa các chỉ tiêu sinh trưởng và hình thái học của loài Vầu đắng tại huyện Na Rì thông qua số liệu điều tra thực nghiệm:
- Kích thước thân khí sinh: Đường kính $D_{1.3}$ biến thiên từ 5,92 cm đến 8,42 cm, chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ dao động từ 9,38 m đến 14,73 m; trung bình toàn huyện đạt $D_{1.3} = 7,08\text{ cm}$ và $H_{vn} = 12,64\text{ m}$. Xã Vũ Loan có điều kiện sinh trưởng tốt nhất với $D_{1.3}$ trung bình đạt 8,28 cm và $H_{vn}$ đạt 12,50 - 14,73 m.
- Biến thiên bề dày vách thân: Vách thân mỏng dần từ gốc lên ngọn; giá trị trung bình ở vị trí $1,3\text{ m}$ là 1,13 cm; vị trí $5\text{ m}$ là 0,89 cm; vị trí $10\text{ m}$ chỉ còn 0,62 cm.
- Đặc trưng cơ quan sinh dưỡng: Cành chét phân cành ở độ cao 3 - 5 m với góc phân cành 30 - 45°, đường kính cành đạt 1,14 - 1,16 cm. Kích thước lá trung bình đạt chiều rộng $R_L = 2,46 - 2,95\text{ cm}$, chiều dài $L_l = 25,50 - 28,33\text{ cm}$. Kích thước mo thân đạt chiều rộng $R_{mo} = 18,40 - 20,61\text{ cm}$, chiều cao $H_{mo} = 29,44 - 31,50\text{ cm}$. Thân ngầm phân bố ở độ sâu 20 - 40 cm với đường kính trung bình 2 cm, lóng dài 5,66 cm.
- Đặc điểm sinh thái lập địa: Loài ưa ẩm mát, lượng mưa thích hợp 1.600 - 2.000 mm/năm, độ ẩm không khí 85 - 90%, có tính chịu bóng cao (độ tàn che tán rừng 0,5 - 0,9), sinh trưởng tốt trên đất Feralit mùn vàng phát triển từ đá phiến thạch sét có tầng dày trên 70 cm. Mùa sinh trưởng mầm măng kéo dài từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau; tỷ lệ măng tự nhiên sống sót phát triển thành cây trưởng thành chỉ đạt 50%, số còn lại chết tiêu biến khi chiều cao dưới 1 m.
Hệ thống giải pháp kỹ thuật do tác giả đề xuất:
- Giải pháp chọn vùng sinh thái: Ưu tiên gây trồng và phát triển tại các thung lũng, chân đồi có tầng đất dày trên 70 cm, độ ẩm cao. Thực hiện bón vôi bột cải tạo đất chua phèn và cày xới rạch hố sâu đối với đất nén dẽ.
- Giải pháp kinh doanh và phục tráng: Đối với lâm phần thoái hóa, áp dụng biện pháp cuốc toàn diện bề mặt, đào bỏ toàn bộ thân ngầm già cỗi trên 4 năm tuổi và gốc cây già, kết hợp bón phân hữu cơ hoai mục để tăng độ tơi xốp. Rừng bị khuy ra hoa cần chặt bỏ toàn diện và trồng lại bằng nguồn giống tái sinh hạt.
- Kỹ thuật khai thác: Thời vụ chặt hạ thân cây khí sinh tiến hành từ tháng 10 đến tháng 12 (đầu mùa khô) nhằm tránh làm tổn thương mầm măng ngầm đang tích lũy dinh dưỡng. Chỉ chặt chọn cây ở tuổi 3 - 4 trở lên, chu kỳ khai thác 2 - 4 năm, duy trì mật độ lâm phần ổn định 6.000 cây/ha. Cho phép khai thác tối đa 50% số măng nhú khỏi mặt đất vào mùa măng (tháng 2 đến tháng 5) để vừa thu hoạch thực phẩm vừa điều tiết cấu trúc tuổi của rừng. Tận dụng triệt để phế liệu thân cây làm than hoạt tính và nguyên liệu giấy.
Đóng góp mới của khóa luận là đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về hình thái học, cấu trúc và sinh trưởng của Vầu đắng tại huyện Na Rì, khắc phục tình trạng thiếu hụt tài liệu điều tra bản địa, làm cơ sở khoa học để các cấp quản lý xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thẳng thắn chỉ ra các hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế quy định:
- Thời gian nghiên cứu ngắn (thực hiện trong 3 tháng, từ tháng 3/2016 đến tháng 5/2016), chưa bao quát trọn vẹn toàn bộ chu kỳ sinh trưởng của măng và thân ngầm qua các mùa trong năm.
- Phạm vi không gian mới tập trung khảo sát tại 3 xã (Kim Lư, Vũ Loan, Cư Lễ) thuộc huyện Na Rì, chưa mở rộng so sánh với các tiểu vùng sinh thái khác trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
- Chưa tiến hành phân tích định lượng chuyên sâu về trữ lượng sinh khối tươi/khô, khả năng tích lũy carbon và hấp thụ $\text{CO}_2$ của rừng Vầu đắng phục vụ trực tiếp cho cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả kiến nghị:
- Tiếp tục thực hiện các đề tài dài hạn với quy mô không gian rộng hơn trên phạm vi toàn tỉnh nhằm đánh giá biến động cấu trúc lâm phần qua các năm.
- Đi sâu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng bằng thân ngầm, kỹ thuật gây trồng thâm canh và quy trình chế biến sâu các sản phẩm từ thân và măng Vầu đắng.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật trong việc tham khảo phương pháp điều tra lâm học đối với các loài tre trúc mọc tản không có vòng năm.
- Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Na Rì, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn) sử dụng số liệu để quy hoạch rừng sản xuất, phân bổ chỉ tiêu khai thác và thẩm định đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng.
- Các chủ rừng, hộ gia đình vùng cao áp dụng trực tiếp quy trình nhận biết cấp tuổi qua vỏ cây/tiếng gõ dao, thời vụ khai thác tháng 10 - 12, tỷ lệ thu hái 50% măng và biện pháp cuốc xới phục tráng thân ngầm để duy trì năng suất rừng lâu dài.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao rừng Vầu đắng tại huyện Na Rì bị suy giảm nghiêm trọng từ năm 2000 đến năm 2014?
Theo số liệu điều tra trong khóa luận, diện tích rừng Vầu đắng giảm từ 756,03 ha (năm 2000) xuống còn 463,08 ha (năm 2014) do hai nguyên nhân chính: người dân địa phương phá rừng để lấy đất canh tác nương rẫy và chuyển đổi mục đích sang trồng cây công nghiệp; đồng thời thu nhập từ nghề rừng còn thấp, người dân chưa thể sống dựa vào rừng nên tình trạng khai thác măng và thân cây diễn ra quá mức, thiếu quy hoạch kỹ thuật khiến rừng bị thoái hóa.
2. Dựa vào những tiêu chí thực địa nào để phân biệt 3 cấp tuổi của thân khí sinh cây Vầu đắng?
Tác giả xác định cấp tuổi dựa trên các đặc điểm hình thái thân:
- Cấp tuổi 1 (1 - 2 tuổi): Vỏ màu xanh phủ lông tơ mềm màu trắng, thịt thân màu trắng nhiều nước, rễ khí sinh chưa chạm đất, gõ sống dao nghe tiếng hơi đanh.
- Cấp tuổi 2 (3 - 4 tuổi): Vỏ chuyển màu xanh xám, xuất hiện lốm đốm mảng địa y trắng mốc, thịt cây màu hồng nhạt, gõ sống dao nghe tiếng đanh rõ rệt.
- Cấp tuổi 3 (trên 4 tuổi): Vỏ cây bị phủ kín bởi các mảng địa y mốc trắng, thịt cây hơi hồng và khô, rễ khí sinh bám chắc xuống đất, gõ sống dao phát ra tiếng đanh.
3. Quy luật biến đổi của bề dày vách thân khí sinh Vầu đắng diễn ra như thế nào theo chiều cao cây và giữa các địa bàn điều tra?
Kết quả đo đếm 30 cây tiêu chuẩn tại 3 xã cho thấy vách thân dày nhất ở phần gốc và mỏng dần về phía ngọn: trung bình tại vị trí $1,3\text{ m}$ vách dày 1,13 cm; vị trí $5\text{ m}$ dày 0,89 cm; vị trí $10\text{ m}$ chỉ còn 0,62 cm. Giữa các địa bàn, xã Vũ Loan có vách thân dày nhất (trung bình toàn cây đạt 0,91 cm; vị trí $1,3\text{ m}$ đạt 1,16 cm), tiếp đến là xã Cư Lễ (trung bình 0,89 cm) và mỏng nhất là xã Kim Lư (trung bình 0,84 cm).
4. Vì sao tác giả đề xuất tỷ lệ khai thác măng Vầu đắng là 50% số măng nhú khỏi mặt đất?
Kết quả theo dõi sinh học cho thấy trong tự nhiên mầm măng phát triển từ tháng 12 đến tháng 5, nhưng chỉ có khoảng 50% số măng nhú khỏi mặt đất có khả năng sống sót và phát triển thành cây trưởng thành; 50% số măng còn lại sẽ tự chết thoái hóa khi ở độ cao dưới 1 m do thiếu không gian dinh dưỡng. Vì vậy, việc khai thác đúng 50% số măng nhú không làm suy giảm mật độ lâm phần mà còn giúp tận thu lâm sản và điều hòa mật độ chồi măng hợp lý.
5. Khóa luận khuyến nghị thời vụ và mật độ khai thác thân khí sinh như thế nào để đảm bảo rừng tái sinh bền vững?
Thời vụ khai thác thân khí sinh tốt nhất là vào đầu mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm), thời điểm này cây ngừng sinh trưởng mạnh nên việc đốn hạ ít gây tổn thương đến hệ thống thân ngầm và mầm măng đang hình thành trong đất. Kỹ thuật khai thác yêu cầu chỉ chặt chọn các cây già từ 4 tuổi trở lên, giữ lại các cây tuổi 1 và tuổi 2 có khả năng sinh măng mạnh, duy trì mật độ lâm phần ổn định ở mức 6.000 cây/ha.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lâm Văn Sláy đã hệ thống hóa toàn diện các đặc điểm sinh thái, giải phẫu hình thái và hiện trạng phân bố của loài Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn qua các dẫn liệu điều tra thực địa chuẩn xác. Các kết quả định lượng về sinh trưởng thân khí sinh, cấu trúc thân ngầm và điều kiện lập địa ưa ẩm mát đã cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc giải quyết mâu thuẫn giữa khai thác kinh tế và bảo tồn tài nguyên tre trúc vùng cao. Hệ thống giải pháp lâm sinh về thời vụ khai thác tháng 10 - 12, tỷ lệ thu hái 50% măng và quy trình phục tráng lâm phần thoái hóa có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý rừng bền vững tại địa phương.