Đặt vấn đề Loài Vầ u đắ ng có tên khoa học là (Indosasa angustata Mc. Clure), thuộc họ Hòa Thảo Poace Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầ u đắ ng Indosasa, còn có các tên gọi khác như : Vầ u lá nhỏ , cây mọc tự nhiên, là loại tre không gai, mọc phân tán đơn độc từng cây.tập trung nhất ở các tỉnh ở các tỉnh như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ,Thái Nguyên, cũng có thể phát triển ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Sơn La. Rừng Vầ u đắ ng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ nguyên sinh bị phá hoại. Vầ u đắ ng là loài tre không gai, thân ngầm dạng roi lan rộng trong đất, thân khí sinh cao từ 17 – 20cm,đường kính từ 10 – 12cm to nhất đến 25cm, than non màu lục nhạt phủ long mềm, thưa, màu trắng sau rụng đi, thân già màu lục xám vòng thân hơi nổi lên nhất là những long giữa thân trở lên, vòng mo không lông, cây phân cành muộn phần không có cành thường tròn đều, vòng đốt không rõ, phần than có cành thường có vết lõm dọc lóng đốt phình to gờ nổi cao, cành thường 3, đôi khi 2 hay 1, Bọ me sớm rụng, hình thang dài và hẹp, lúc non màu lông hồng, sau khi khô màu nau nhạt, cây phát triển rất tốt dưới tán thưa của rừng cây gỗ nhất là ở các khe hẻm , thung lũng.
Vầ u đắ ng là loài điển hình cho nhóm mọc tản, có kích thước thân lớn của nước ta. Kích thước cây trung bình: Thân cao 17m, đường kính 10cm, lóng dài 35cm, vách thân dầy 1 cm, thân tươi nặng 20kg. Cây sinh trưởng chủ yếu bằng hệ thống thân ngầm nằm dưới mặt đất 20 – 30cm. Đôi khi than ngầm trồi lên trên mặt đất, mùa sinh trưởng vào tháng 12 đến tháng 5 mầm măng phát triển dưới mặt đất từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau nhũ khỏi mặt đất từ thắng 2 đến tháng 5 (đầu mùa mưa).
Thường chỉ 50% sống và phát triển thành cây trưởng thành, số còn lại bị chết ở độ cao dưới 1m. Vì vậy có thể khai thác 50% số măng nhũ khỏi mặt đất số măng trong rừng Vầ u đắ ng mà không ảnh hưởng tới rừng. Cây 1–2 tuổi là cây non; cây 3-4 tuổi là cây trung n 2 bình; từ 5 tưởi trở lên là cây già. Tuổi thọ của mỗi cây không quá 10 năm.
Tuổi khai thác tốt trên 3 năm. Nếu bị tác động mạnh rừng Vầu đắng có khả năng phục hồi nhanh về số lượng cây/ha nhưng đường kính cây phục hồi rất chậm, mùa măng từ tháng 2 đến tháng 5. Đây là loài cây đa tác dụng, thân khí sinh có kích thước lớn dung làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu giấy, đũa, ván ghép, chiếu hạt và than hoạt tính có chất lượng phục vụ suất khẩu. Măng cây Vầ u đắ ng có chất lượng cao, hương vị ngon, được người tiêu dung ưa chuộng, cây cho năng suất cao.
Là loài cây mọc tự nhiên, mọc nhanh, phổ biến và có đặc tính mọc thành quần thể lớn trên diện rộng nên có vai trò quan trọng trong đòi sống của nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy giấy và tạo nguồn thu nhập cho người dân tại địa phương. Vì vậy cần được quy hoạch thành vùng ổn định cũng như quản lý rừng Vầ u đắ ng bằng biện pháp kỹ thuật tốt để duy trì ổn định và lâu dài. Hiện nay các nghiên cứu về cây Vầ u đắ ng còn quá ít. Cần một số đề tài nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh học và kỹ thuật gieo trồng, chế biến để nâng cao hiệu suất sử dụng về giá trị kinh tế của loài Vầ u đắ ng.
Na Rì là huyện ở phía Đông của tỉnh Bắc Kạn có 80% diê ̣n tić h là đồ i núi. Với tổ ng diê ̣n tích rừng tự nhiên là 56.805,83 ha chủ yế u là rừng thứ sinh phân bố ở hầ u hế t các xã , thị trấn của huyện Na Rì. Trong đó rừng Vầ u đắ ng có 756,03 ha chủ yếu tập trung tại các xã Vũ Loan, Cư Lễ, Kim Lư. Hiện nay rừng Vầ u đắ ng của huyện Na Rì cũng chỉ được thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ.
về cấu trúc và giá trị môi trường chưa có nghiên cứu đánh giá về cấu trúc và khả năng hấp thụ CO2 để làm cơ sở cho phát triển và việc chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng như xác định giá trị đích thực của rừng Vầ u đắ ng đem lại để có các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vầ u đắ ng trong thời gian tới, tại huyện Na Rì Bắc Kạn. Cả tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Na Rì nói riêng, mỗi năm diện tích rừng Vầ u đắ ng ngày càng bị thu hẹp do sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phá rừng làm rẫy, trồng cây công nghiệp, năm 2000 diện tích Vầ u đắ ng là 756,03nhưng đến năm 2014 chỉ còn 463,08 Nguyên nhân chủ yếu là do người n 3 làm nghề rừng chưa sống được với rừng, thu nhập thấp, đời sống khó khăn. Việc mất đi những diện tích rừng Vầ u đắ ng không chỉ gây ra phương hại về mặt kinh tế, chức năng phòng hộ môi trường, bảo tồn nguồn gen mà thông qua việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố rừng Vầ u đắ ng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” được đặt ra là thật sự cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Mục tiêu của đề tài Xác định được đặc điểm sinh thái và phân bố rừng Vầ u đắ ng làm cơ sở khoa học cho đề xuất mô ̣t số biê ̣n pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng Vầ u đắ ng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Ý nghiã của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Mở ra hướng nghiên cứu và đặc tính sinh thái của loài tre trúc nói chung. Từ đó đưa ra nhưng cơ sở khoa học trong kinh doanh rừng Vầ u đắ ng theo hướng bền vững tại huyện Na Rì Bắc Kạn. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu kham khảo cho các cấp, các nghành trong việc chi trả dịch vu môi trường rừng, cho chủ rừng trong thực tiễn sản xuất rừng Vầ u đắ ng tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương rừng có vầu nói chung.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Vầ u đắ ng là loài tre trúc bản địa có thân ngầm mọc tản phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh phía bắc nước ta đây là loài cây đa tác dụng, thân cây có thể làm nhiên liêu giấy, ván ghép tranh, đũa, chế biến than hoạt tính, làm nhà, làm hàng rào. Măng Vầu là loài thực phẩm có chất lượng cao được nhân dân ưa chuộng, rừng Vầ u đắ ng có tầng tán lá dầy xanh quanh năm, hệ thân ngầm phát triển do phát huy tốt tác dụng của rừng phòng hộ. Cho đến nay huyện Na Rì nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và nhân tố ảnh hưởng tới sinh thái như đất đai, khí hậu địa hình con người tới phân bố sinh trưởng của Vầ u đắ ng chưa được tiến hành một cách hệ thống.
Nghiên cứu cơ bản đưa ra những giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với đặc tính sinh vật học và sinh trưởng của loài cũng như phù hợp với trình độ quản lý của người dân địa phương còn là khoảng trống cần bổ sung. Đối với loài Vầ u đắ ng huyện Na Rì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách sâu sắc ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng, phát triển, phân bố loài Vầ u đắ ng. Theo nguồn tin của người dân tại địa bàn nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu trong nước Cấu trúc rừng là quy luật sắp sếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc là một trong những nội dung quan trọng về quần thể thực vật khái niệm này không chỉ bao gồm những nhân tố cấu trúc và hình thái mà cả những nhân tố cấu trúc về sinh thái. Giữa cấu trúc rừng và sinh thái rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bất kỳ quy luật cấu trúc quần thể nào cũng đều có nội dung sinh thái học bên trong của nó cấu trúc sinh thái bao gồm các nhân tố; tổ thành thực vật, dạng sống, tầng phiến.
n 5 Cấu trúc hình thái được phân biết thành cấu trúc trên mặt phẳng đứng (hiện tượng thành tầng) và cấu trúc trên mặt phẳng ngang (mật độ và mạng hình phân bố cây trong quần thể) mô hình cấu trúc sinh thái của quần thể được thể hiện hiện bằng môn hình không gian ba chiều. Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) Vầ u đắ ng có tên khoa học là Indosasa sinica C. Chao thuộc họ Hòa Thảo Poace Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầ u đắ ng Indosasa.[1] Theo Vũ Dũng và Lê Viết Lâm (2004)tình hình và phương hướng nghiên cứu sản xuất, chế biến tre trúc Việt Nam. Hội thảo tre trúc tại trung tâm nghiên cứu lâm sản tại Viện khoa học lâm nghiệp (2004) [2] Vũ Dũng sau khi thu nhập mẫu mô tả, đối chiếu với tài liệu và trao đổi với chuyên gia Trung Quốc đã đề nghị thống nhất và sửa lại tên là Indosasa angustata McClure (2001).
Vầ u đắ ng là loài Tre mọc tản, thân ngầm lan rộng trong đất, đường kính 1 - 3 cm. Thân khí sinh cao 17 - 20m, đường kính 10 - 12cm; cây to nhất có thể tới 20 cm; thân non màu lục nhạt, phủ lông mềm, thưa, màu trắng, sau rụng đi; thân già màu lục xám. Chiều dài lóng giữa thân 30 - 50cm, dài nhất đến 80cm, vòng thân hơi nổi lên, nhất là những lóng giữa thân trở lên; vòng mo không có lông. Cây phân cành muộn, phần không có cành thường tròn đều, vòng đốt không nổi rõ.
Phần thân tre có cành, thường có vết lõm dọc lóng, đốt phình to, gờ nổi cao. Cành thường 3, đôi khi 2 hay 1.