CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN VÈ TÀI LIỆU 1. Tổng quan về kháng sinh Neomycin 1. Giới thiệu về kháng sinh Neomycin Kháng sinh Neomycin thuộc nhóm Aminosid - là nhóm kháng sinh được thu nhận từ loài Streptomyces và một số được bán tống hợp. Do cấu trúc hóa học đều mang đường và có chức amin nên có tên Aminosid.
Kháng sinh nhóm Aminosid gồm nhiều loại thuốc như sau: Streptomycin, Neomycin, Kanamycin, Gcntamycin.Trong đó kháng sinh neomycin được phân lập vào năm 1949. ♦ Sự hấp thu Neomycin không hoặc rất ít hấp thu ờ đường tiêu hoá. Khi tiêm bắp neomycin hấp thu nhanh, đạt nồng độ cao trong huyết tương sau 1-2 giờ. Thuốc được hấp thu 100%.
Thời gian bán thái của Neomycin khoáng 24 giờ. Neomycin lích luỹ ờ vó thận có thể kéo dài 60-100 giờ. Nhất là khi thận bị viêm hay tiêm nhắc lại. Thư viện Viện Đại học Mớ Hà Nội ♦ Phân bố Neomycin gắn dề dàng với protein - huyết thanh vào dịch não tuỷ.
Khi viêm màng não, nó tham vào nhiều hơn. Neu tiêm đồng thời vào não và tĩnh mạch thuốc sẽ đạt hàm lượng hữu hiệu chữa bệnh trong 11-18 giờ liền. Khi bị bệnh ờ phổi, vì nồng độ Neomycin trong phoi luôn thấp hơn MIC (minimal inhibitated concentration) cúa nhiều chúng vi khuấn gây viêm phối, phế quán. Do vậy, với bệnh đường hô hấp nên dùng theo phương pháp khí dung, nhó mũi hay tiêm tĩnh mạch.
Thuốc khuếch tán tốt qua nhau thai, dịch cồ trướng, dịch phe mạc, dịch ngoài tim ít vào mờ, xương. ♦ Thái trừ Neu tiêm. Neomycin thái qua nước tiểu dưới dạng nguyên chưa chuyến hoá còn hoạt tính. Thuốc luôn có nồng độ cao trong nước tiều, thải nhanh trong 24 giờ đâu từ 80-90% qua câu thận.
Rât ít qua mật. Nêu suy thận sẽ làm thay đôi sự thái trừ của Neomycin, khi đó thời gian bán thải của thuốc sẽ tăng lên gấp 20-30 lần so 3 với bình thường. Neu uống, gần như không được hấp thu qua đường tiêu hoá (chi khoáng 10%). Neomycin gây hiện tượng tích luỹ thuốc ờ cầu thận.
Tại các quản cầu thận, nồng độ Neomycin lớn gấp 2 - 3 lần so với tuỳ thận và gấp 20 - 30 lần nồng độ cao nhất trong huyết thanh. Do thuốc gắn chặt vào các te bào trên quán cầu thận, nên gây hiện tượng tích luỹ nhiều tuần sau khi ngưng thuốc. ♦ Phản ứng có hại: Hai phán ứng có hại nồi tiếng là gây độc cho tai và gây độc cho thận. Neomycin gây độc cho tai nhiều hơn các thuốc khác, mặc dù chưa bao giờ có mối liên quan rõ ràng giữa nong độ Neomycin huyết thanh và tiến triến cùa nhiễm độc ờ tai.
Mặc dù người ta cho ràng độc tính đối với tai cùa Neomycin chủ yếu là ờ ốc tai. Nhiễm độc tai diễn ra sau khi sứ dụng kéo dài và không the hồi phục. Nhiễm độc thận là một phân ứng có hại khác. Neomycin được hấp thu bời hiện tượng thấm bào và thuốc tập trung trong các lysosome.
Vì không có cơ chế đào. thải phức hợp Neomycin-lysosom nội bào, tẽ bào trương lên và vỡ ra. Nông độ thuốc tàng cao trong thời gian dài làm nặng thêm độc tính thận của Neomycin. Gây độc với thận vì thãi trừ chủ yếu qua thận nên dễ gây kích ứng, nặng hơn có thế gây hoại tứ ống thận cấp.
♦ Sự hấp thụ Phố kháng khuẩn rộng dùng chù yếu để chống khuẩn hiếu khí gram (-) [1]. Thường dùng dưới dạng thuốc bôi dế diều trị nhiễm khuẩn da - niêm mạc trong bóng, vết thương, vết loét và các bệnh ngoài da bội nhiễm [2). Neomycin chi được dùng dường uống trong điều trị bệnh não gan vì dộc tính quá cao khi dùng ngoài đường tiêu hóa hoặc rửa tại chồ. ♦ Tính kháng thuốc Neomycin không có tác dụng đối với liên cầu khuẩn, và đa số chùng vi khuẩn đường ruột Enterococcus kháng thuốc.
4 ♦ Cơ chế tác độnj Hình 1.1: So' đồ CO' chế tác động của các kháng sinh neomycin Nhóm Aminosid ức chế sự tổng nảy ịhílỄirbểiĩấ vi khuẳn bằng cách gắn vào protein tiếp nhận trên đơn vị 30S của ribosome làm đọc sai thông tin cúa ARN, làm hình thành các protein không có hoạt tính, ngoài ra còn làm tách các protein ớ trạng thái polymer thành monomer. Giai đoạn 1: Thuốc gắn vào protein là thụ thế chuyên biệt ở trên tiếu đơn vị 30S cùa ribosome vi khuấn. Giai đoạn 2: Thuốc phong tỏa hoạt động của phức hợp đầu tiên "initiation complex" cùa quá trình thành lập chuồi peptide (ARNm + íbrmylmethiomine + ARNt). Giai đoạn 3: Thông tin mRNA bị đọc sai ở vùng nhận diện (recognition region) cúa ribosome, kết quá là một acid amin không phù hợp được đưa vào chuỗi peptide, tạo một protein không có chức năng.
5 Giai đoạn 4: Sự gắn cúa thuốc làm vỡ các polysome thành các monosome không có khá năng tồng hợp protein, các tác động này xảy ra ít nhiều có tính đồng thời và kết quà là tế bào vi khuấn bị giết. Kháng sinh trong chăn nuôi Do vật nuôi cũng bị vi sinh vật tan công, gây bệnh dịch chết hàng loạt. Vì vậy, các kháng sinh cũng được dùng đế chữa bệnh. Tuy nhiên việc chữa bệnh cho động vật bàng các kháng sinh dùng cho người dẫn tới việc tạo ra nhanh chóng các chúng kháng thuốc, do đó việc dùng cùng loại kháng sinh đế chữa bệnh cho cả người và động vật phải hết sức hạn chế và được các quy định luật pháp điều tiết.
Kháng sinh còn được dùng như chất kích thích tăng trọng gia súc gia cầm, giám chi phí thức ăn. kích thích tăng sán lượng trứng gà vịt 11]. ♦ Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới Mỹ là một trong những nước sử dụng kháng sinh nhiều nhất thế giới, hàng năm khoảng 2730 tấn kháng sinh được dùng trong chăn nuôi, xấp xi 80% gia cầm, .v^w yien yjei) DaiTipcTviQHa_N0f 70% lợn; 70% bò sữa và 60% bò thịt ớ Mỹ được nuôi dưỡng băng thức ăn có bô sung kháng sinh. Vào năm 1999, có khoáng 9273 tấn kháng sinh được sữ dụng (theo số liệu thống kê của viện thú y Mỹ) và đặc biệt khoảng 1270 tan kháng sinh được sử dụng với mục đích kích thích sinh trường.
Trong năm 1997 tồng lượng kháng sinh sử dụng dùng ờ các nước châu Âu là 10.500 tấn trong dó 33% trong điều trị thú y và 15% như chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi. ♦ Tình hình sừ dụng kháng sinh ỡ Việt Nam Kết quá điều tra cùa Lã Văn Kính và ctv (1996) trên 75% số mẫu thịt và 66,7% số mẫu gan (gà nuôi theo phương thức công nghiệp) cho thay đều có tồn dư kháng sinh với mức tồn dư từ 3,67-122 ppm tùy theo chúng loại, cao hơn hàng chục đến hàng nghìn lần so với tiêu chuẩn Quốc tế. Khoa Chăn nuôi Thú y Đại học Nông Lâm thành phố Ho Chí Minh xét nghiệm các mẫu thịt được lấy trực tiếp tại các chợ cho thấy có 26 loại kháng sinh 6 được phát hiện. Trong đó loại được sứ dụng nhiều nhất chloramphenicol (chiếm 15,35%), tylosin (15%), colistin (13,24).
Trong đó, chloramphenicol là kháng sinh hiện đã bị cấm sứ dụng. Trong 149 mầu thịt gà dược kiếm tra. phân tích có đến 44,96% số mẫu có dư kháng sinh vượt quá mức quy định cho phép từ 2,5 đến 1.100 lần so với tiêu chuẩn ngành. Trong đó, loại kháng sinh chloramphenicol chiếm tỳ lệ cao nhất đến 87,5%.
Dư lượng kháng sinh trong các mầu thực phẩm Dư lượng kháng sinh là tình trạng kháng sinh tồn tại trong các mầu thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa. còn ờ dạng nguyên chất hay đã bị chuyển hóa mà việc sừ dụng những loại thực phẩm này có thê gây ra những tác hại không ngờ tới người tiêu dùng. 4 Nguyên nhân gây tồn dư kháng sinh: s Có thể nhiễm lẫn vào thức ăn do tiếp xúc với môi trường có chứa kháng sinh. Có thể tồn dư do lỗi kỹ thuật sử dụng thường xuyên kháng sinh trong chăn nuôi gia súc như: Thư viện Viện Đại học Mớ Hà Nội + Kháng sinh cho vào thức ăn với mục đích kích thích tăng trọng cho gia súc.
+ Kháng sinh cho vào nước uống đế phòng bệnh trong mùa dịch bệnh. + Kháng sinh cho vào nước uống dế chừa bệnh gia súc. + Kháng sinh cho thêm vào thức ăn cho gia súc để báo quàn súc sân lâu hư. + Kháng sinh tiêm vào súc vật hoặc cho súc vật uống trước khi giết thịt với mục đích kéo dài thời gian, tránh hư hóng thịt tươi.
+ Sừ dụng kháng sinh ngoài danh mục cho phép. J Có thế cho thắng vào thực phẩm với mục đích ức chế, tiêu diệt vi sinh vật dô báo quán thực phâm. Do vận chuyên sàn phàm đi xa, cho kháng sinh vào thực phẩm để bâo quăn. 7 J Không tuân thù theo đúng quy định về thời gian ngưng thuốc cũng như liều lượng kháng sinh vì sự chuyển hóa kháng sinh trong mỗi cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, loài, tuôi, tình trạng sức khòe.
Tất cà những nguyên nhân trên làm cho sàn phấm chăn nuôi tồn dư kháng sinh, có ảnh hướng không tốt đối với người tiêu thụ. ♦ Ảnh hưởng của dư lượng kháng sinh đối vói sức khỏe con người: Vì mục tiêu tăng năng suất trong chăn nuôi, trước đây người ta sữ dụng kháng sinh như là chất kích thích tăng trọng, giảm tiêu hao thức ăn, tăng lợi nhuận. Điều dó đã gây ra hậu quà rất xấu cho con người mà ngày nay người ta đã nhận ra được. Đế góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các nhà chăn nuôi đối với cuộc sống của nhân loại, sau đây là các tác hại cúa việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi: V Ảnh hưởng ngay lập tức sau khi tiêu thụ sán phấm: - Phán ứng quá mẫn đối Ỷới ọgười nhạy câm kháng sinh - Gây dị ứng sau khi tiêu thụ thực phấm tồn dư kháng sinh V Ánh hưởng muộn hơn khi tiêu thụ thực phẩm tồn dư kháng sinh: - Tạo ra thể vi sinh vật kháng thuốc - Gây khó khăn cho công tác diều trị nhiễm khuẩn - Gây tốn kém về mặt kinh tế V Làm giảm sự đáp ứng miễn dịch cùa cơ the, tạo ra con giống yếu ớt: - Không sống được khi không có kháng sinh Một số kháng sinh có thể gây ung thư cho người tiêu thụ Vậy ngoài đường uổng, thuốc kháng sinh còn thâm nhập vào cơ thế chúng ta qua đường ton dư trong thực phẩm: thịt, trứng, sữa của các động vật chăn nuôi.
Các thông tin về hàm lượng kháng sinh an toàn trong thục phẩm Hiện nay trên thế giới, ủy ban Châu Âu.