Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động khai thác khoáng sản lộ thiên tại tỉnh Quảng Ninh mỗi năm thải ra hàng chục triệu mét khối đất đá, hình thành các bãi thải khổng lồ làm suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái tự nhiên. Điển hình tại bãi thải mỏ than Khe Hùm thuộc thành phố Hạ Long, các khu vực đổ thải có quy mô rất lớn như bãi thải mức cộng 290 Bắc với diện tích 270.000 m2, bãi thải mức cộng 120 Nam rộng 218.000 m2 và bãi thải trong mức cộng 160 lên tới 624.000 m2. Theo kế hoạch đổ thải giai đoạn 2017 - 2024, khối lượng đất đá bóc thải tiếp tục gia tăng với hàng triệu mét khối mỗi năm, dẫn đến tình trạng đất bãi thải bị thoái hóa nặng nề, có tính chua cao với độ pH đạt 4,5, dung tích trao đổi cation chỉ ở mức 5,5 meq/100g và hàm lượng chất hữu cơ nghèo nàn khoảng 1,69%.

Song song với thách thức môi trường mỏ, ngành chế biến lâm nghiệp tại Việt Nam phát sinh một lượng khổng lồ phế phụ phẩm mùn cưa cây keo (Acacia). Mùn cưa keo chứa hàm lượng chất hữu cơ lên tới 70,12% nhưng lại rất khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên do tỷ lệ C:N cực cao đạt 1275:1 và tổng hàm lượng hợp chất lignocellulose chiếm gần 80% khối lượng khô (cellulose 35,04%, hemicellulose 20,50% và lignin 24,41%). Việc thải bỏ bừa bãi nguồn phế liệu này không chỉ gây lãng phí tài nguyên sinh khối mà còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và cháy nổ.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2019 tại thành phố Hạ Long nhằm giải quyết đồng thời hai vấn đề môi trường cấp bách. Mục tiêu cụ thể là xác định chế độ nhiệt phân yếm khí tối ưu (nhiệt độ và thời gian nung) để chuyển hóa mùn cưa keo thành phân than sinh học chất lượng cao, đồng thời đánh giá định lượng khả năng cải thiện các đặc tính lý hóa của đất bãi thải Khe Hùm thông qua thí nghiệm chậu vại kết hợp trồng cây cỏ đậu (Arachis pintoi). Kết quả nghiên cứu mở ra hướng đi bền vững trong kinh tế tuần hoàn, giúp biến phế thải lâm nghiệp thành nguồn phân bón cải tạo đất thoái hóa, tăng khả năng đệm dinh dưỡng và lưu giữ carbon bền vững trong đất hàng trăm năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nhiệt phân yếm khí sinh khối lignocellulose và cơ chế trao đổi ion trong đất học môi trường:

  1. Lý thuyết nhiệt phân yếm khí (Pyrolysis Theory): Dưới điều kiện thiếu oxy và gia nhiệt có kiểm soát, các thành phần carbohydrate (cellulose, hemicellulose) và polymer thơm (lignin) trong mùn cưa keo bị nhiệt phân, giải phóng các hợp chất bay hơi và tái cấu trúc thành khung carbon thơm bền vững. Quá trình này hình thành hệ thống mao quản vi mô (micropores dưới 2 nm chiếm tới 95% diện tích bề mặt riêng) và phát triển các nhóm chức oxy hóa bề mặt.
  2. Lý thuyết trao đổi ion và hóa học bề mặt đất: Than sinh học sở hữu mật độ điện tích âm cao trên bề mặt nhờ các nhóm carboxyl, hydroxyl và phenol. Khi bón vào đất chua, các nhóm này cùng hàm lượng ion kiềm trao đổi dồi dào (Ca2+, Mg2+, K+) giúp trung hòa ion H+ tự do, nâng cao dung tích hấp thu cation (CEC) và giảm thiểu sự rửa trôi dinh dưỡng khoáng.
  3. Mô hình sinh thái phục hồi đất kết hợp thảm thực vật che phủ: Tận dụng cơ chế cộng sinh giữa biochar và cây họ Đậu (Arachis pintoi). Cây cỏ đậu có khả năng sản xuất sinh khối xanh đạt trung bình 150 tấn/ha/năm với hàm lượng đạm trong thân lá đạt 2,5 - 3,0% N, kết hợp với nốt sần cố định nitơ tự do từ khí quyển, tạo chu trình bổ sung dinh dưỡng hữu cơ tuần hoàn cho đất bãi thải.

Các khái niệm then chốt bao gồm: Vật liệu Lignocellulose, Phân than sinh học (Biochar), Dung tích trao đổi cation (CEC), Đất bãi thải mỏ than và Quá trình cố định carbon âm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu và mẫu vật: Mùn cưa cây keo được thu thập tại các xưởng chế biến gỗ lâm sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, phơi khô 3 ngày và nghiền nhỏ qua sàng 0,5 mm. Đất thí nghiệm được lấy từ các tầng đất bãi thải Khe Hùm, nhặt sạch sỏi vụn, rễ cây và rây đồng nhất qua mắt lưới 3 mm.

Quy mô và phương pháp chọn mẫu thực nghiệm: Thí nghiệm chậu vại được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong điều kiện nhà lưới tại Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh. Mỗi thùng xốp thí nghiệm (kích thước 50 x 37 x 34 cm) chứa 20 kg đất đồng nhất, duy trì độ ẩm ổn định ở mức 60% sức giữ ẩm tối đa. Nghiên cứu khảo sát 8 công thức thí nghiệm độc lập với 3 lần lặp lại (tổng số 24 chậu thí nghiệm), gồm 4 tỷ lệ phối trộn than sinh học (0%, 1%, 5%, 10% theo khối lượng đất) trong hai chế độ: không trồng cây và có trồng cây cỏ đậu (gieo 10g hạt/thùng).

Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:

  • Phân tích thành phần lignocellulose: Sử dụng quy trình chiết tách hóa học Mansor A với dung môi acetone, NaOH 0,5M và H2SO4 98% để định lượng chính xác cellulose, hemicellulose và lignin.
  • Phân tích nhiệt và cấu trúc vật liệu: Giản đồ nhiệt vi sai TGA/DTG được quét từ 30 °C đến 900 °C với tốc độ nâng nhiệt 10 °C/phút trong khí trơ Argon; nhiễu xạ tia X (XRD) quét góc 2-theta từ 10° đến 70°; kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (SEM) độ phóng đại 1.000 lần xác định độ xốp bề mặt.
  • Phân tích hóa lý đất và than sinh học: Thực hiện nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn quốc gia gồm TCVN 5979:2007 (đo pH), TCVN 8568:2010 (xác định CEC), TCVN 8941:2011 (đo chất hữu cơ), TCVN 6498:2009 (đo Nitơ tổng số Kjeldahl), quang phổ phát xạ ICP-OES (xác định Kali tổng số) và US EPA Method 3051 kết hợp SMEWW 3125B (phân tích kim loại nặng Cu, Zn, Pb, Cd, As).

Lý do lựa chọn phương pháp: Sự kết hợp giữa các phương pháp phân tích cấu trúc hiện đại (TGA, XRD, SEM) và hệ thống tiêu chuẩn TCVN, US EPA đảm bảo tính chuẩn xác, khách quan và khả năng truy xuất nguồn gốc số liệu trong suốt 12 tuần thực nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã làm sáng tỏ các biến đổi hóa lý của than sinh học mùn cưa keo và đất bãi thải mỏ than qua các chỉ số định lượng cụ thể:

Thứ nhất, xác lập điều kiện nhiệt phân tối ưu ở 450 °C trong 2 giờ. Tại mốc nhiệt độ này, hiệu suất thu hồi than sinh học đạt 80,11%, vật liệu có phản ứng kiềm với pH 7,92 và CEC đạt đỉnh 81,82 meq/100g (cao gấp 4 lần so với mức 20,24 meq/100g khi nung ở 250 °C). Hàm lượng dinh dưỡng đa lượng và trung lượng được tích lũy cao nhất với N tổng số đạt 6,284 mg/g, P2O5 tổng số đạt 1,4486 mg/g, K tổng số đạt 4,309 mg/g, tổng Ca2+ và Mg2+ trao đổi đạt 24,0 mgđl/100g, cùng hàm lượng chất hữu cơ ổn định ở mức 6,869%.

Thứ hai, cải thiện vượt bậc độ chua và dung tích đệm của đất bãi thải. Đất ban đầu có độ chua cao (pH 4,5). Sau 12 tuần thí nghiệm phối trộn 10% biochar kết hợp trồng cỏ đậu, pH đất tăng mạnh lên 6,9 (tăng 53,3% so với nền đất gốc và tăng 50% so với đối chứng không bón biochar có pH 4,6). Đồng thời, dung tích trao đổi cation CEC của đất tăng vọt từ 5,5 meq/100g lên 16,5 meq/100g (tăng 200%, gấp gần 3 lần đối chứng).

Thứ ba, làm giàu nhanh chóng hàm lượng mùn và nguồn dinh dưỡng NPK. Khi bón 10% than sinh học và trồng cỏ đậu, hàm lượng chất hữu cơ trong đất đạt 2,16% (tăng 92,8% so với đối chứng không trồng cây chỉ đạt 1,12%). Đặc biệt, hàm lượng nitơ tổng số trong đất tăng vọt từ 0,05% lên 0,323% (tăng hơn 540%), lân tổng số P2O5 tăng từ 0,017% lên 0,063% (tăng 270%) và kali tổng số K2O tăng từ 0,20% lên 0,255%.

Thứ tư, bất hoạt và giảm thiểu linh động của các kim loại nặng trong đất. Trong nghiệm thức trồng cỏ đậu bón 10% than sinh học, hàm lượng các kim loại nặng hòa tan chiết xuất được giảm rõ rệt so với đối chứng không bổ sung than: đồng (Cu) giảm từ 55,4 ppm xuống 30,1 ppm (giảm 45,6%), kẽm (Zn) giảm từ 131,3 ppm xuống 97,9 ppm (giảm 25,4%), chì (Pb) giảm từ 22,5 ppm xuống 14,4 ppm (giảm 36,0%), cadimi (Cd) giảm từ 2,22 ppm xuống 1,03 ppm (giảm 53,6%) và asen (As) giảm từ 7,71 ppm xuống 3,67 ppm (giảm 52,4%).

Thảo luận kết quả

Cơ chế nâng cao độ phì đất bắt nguồn từ cấu trúc vi xốp rỗng của biochar mùn cưa, được chứng minh qua giản đồ XRD với đỉnh rộng vô định hình tại góc 2-theta bằng 22,5° và hình ảnh SEM. Cấu trúc mao quản này đóng vai trò như một kho chứa vi mô giữ nước và chất hòa tan, ngăn chặn hiện tượng trực di rửa trôi dưỡng chất thường gặp ở các bãi thải dốc.

Sự gia tăng độ pH đất được giải thích bởi quá trình phân ly của các muối cacbonat, oxit và hydroxit kiềm (Ca2+, Mg2+, K+) tích tụ trong than sinh học khi nhiệt phân ở 450 °C, tương tự như tác dụng bón vôi nông nghiệp nhưng duy trì tính đệm bền vững hơn. Sự vượt trội của công thức kết hợp cỏ đậu và than sinh học (N tổng số đạt 0,323% so với 0,110% ở công thức chỉ bón 10% biochar không có cây) chứng minh hiệu ứng hiệp đồng sinh học: biochar cung cấp môi trường trú ngụ và khoáng chất cho vi khuẩn nốt sần Bradyrhizobium, thúc đẩy cố định đạm khí quyển và chuyển hóa thành sinh khối hữu cơ.

Đặc tính hấp phụ và bất hoạt kim loại nặng diễn ra thông qua ba cơ chế chính: kết tủa kim loại dưới dạng hydroxit/cacbonat khi pH đất tăng lên môi trường trung tính (6,9), tạo phức chelate bề mặt với các nhóm chức oxy hóa (-COOH, -OH) và trao đổi cation trực tiếp với các vị trí tích điện âm trên bề mặt biochar.

Toàn bộ các chuỗi dữ liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa liều lượng phối trộn biochar (0% đến 10%) với các chỉ số lý hóa của đất có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống biểu đồ cột kép so sánh trước và sau 12 tuần, kết hợp bảng ma trận phân tích tương quan tuyến tính giữa tỷ lệ biochar, giá trị pH và dung tích hấp thu CEC.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ than, bốn giải pháp trọng tâm được đề xuất:

  1. Chuẩn hóa quy trình nhiệt phân mùn cưa quy mô bán công nghiệp: Doanh nghiệp chế biến gỗ và công ty môi trường mỏ cần phối hợp đầu tư hệ thống lò nhiệt phân liên hoàn ở nhiệt độ 450 °C trong 120 phút, kiểm soát tốc độ gia nhiệt ổn định 10 °C/phút nhằm đạt mục tiêu sản lượng than sinh học đạt tiêu chuẩn CEC trên 80 meq/100g và tỷ lệ thu hồi đạt tối thiểu 80% sinh khối khô, hoàn thành chuyển giao công nghệ trong quý 2 năm 2021.
  2. Ứng dụng gói kỹ thuật phối trộn 5% đến 10% than sinh học kết hợp thảm cỏ đậu: Công ty TNHH MTV Khai thác Khoáng sản thuộc Tổng công ty Đông Bắc chủ trì thi công rải đều và cày xới lớp mặt sâu 20 cm với định mức 50 - 100 tấn biochar/ha tại bãi thải Khe Hùm, kết hợp gieo hạt cỏ đậu Arachis pintoi mật độ 10 kg/ha để phủ xanh và hoàn nguyên 15 ha bãi thải trong vòng 12 đến 24 tháng.
  3. Thiết lập chuỗi liên kết tuần hoàn sinh thái lâm nghiệp và khai khoáng: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh chủ trì điều phối mạng lưới thu gom khoảng 9.000 tấn mùn cưa keo phát sinh hàng năm từ các cơ sở chế biến lâm sản, tạo nguồn cung ứng nguyên liệu sản xuất phân bón tại chỗ, giúp giảm phát thải khí nhà kính và cắt giảm ít nhất 40% chi phí mua đất màu phủ mặt bãi mỏ trong giai đoạn 2021 - 2025.
  4. Ban hành hướng dẫn kỹ thuật phục hồi đất bãi thải khoáng sản bằng biochar: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh thẩm định, đưa than sinh học từ phế liệu lignocellulose vào danh mục vật liệu phục hồi môi trường bắt buộc trong các đề án đóng cửa mỏ than lộ thiên, phấn đấu đưa độ pH đất bãi thải đạt ngưỡng an toàn từ 6,0 đến 7,0 và hàm lượng hữu cơ vượt mốc 2,0% vào cuối năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

  1. Doanh nghiệp khai thác than và khoáng sản: Áp dụng trực tiếp quy trình cải tạo đất bãi thải bằng biochar mùn cưa và cỏ đậu để thực hiện nghĩa vụ hoàn nguyên môi trường theo quy định pháp luật, rút ngắn thời gian phục hồi thảm thực vật từ 5 năm xuống còn 2 năm và tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí vận chuyển đất mặt màu mỡ.
  2. Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Sử dụng toàn bộ hệ thống số liệu hóa lý, phương pháp tách chiết Mansor A, giản đồ nhiệt vi sai TGA/DTG, XRD và mô hình động học trao đổi ion làm tài liệu tham khảo chuẩn mực trong các công trình nghiên cứu về vật liệu học môi trường, khoa học đất và công nghệ nhiệt phân sinh khối.
  3. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và nông nghiệp: Tham khảo các luận cứ khoa học để hoạch định chính sách kinh tế tuần hoàn, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong xử lý chất thải lâm nghiệp và thiết lập bộ tiêu chí đánh giá phục hồi môi trường mỏ sau khai thác.
  4. Nhà máy sản xuất phân bón và chế phẩm sinh học cải tạo đất: Khai thác công nghệ chế tạo than sinh học kiềm tính giàu khoáng chất để thương mại hóa các dòng sản phẩm phân bón nhả chậm chuyên dùng cho các vùng đất cát ven biển, đất chua phèn và đất đồi núi dốc bị thoái hóa rửa trôi.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao mùn cưa keo tươi không thể bón trực tiếp cho đất mà phải chuyển hóa thành than sinh học? Mùn cưa cây keo chứa tỷ lệ C:N cực cao (1275:1) và hàm lượng lignocellulose tới gần 80%. Nếu bón trực tiếp, vi sinh vật đất sẽ tiêu thụ toàn bộ lượng đạm tự do để phân giải cellulose và lignin, gây ra hiện tượng cạnh tranh đạm nghiêm trọng làm cây trồng còi cọc, đồng thời kéo dài thời gian hoai mục trong nhiều năm.

Nhiệt độ và thời gian nhiệt phân nào mang lại chất lượng than sinh học tối ưu nhất? Nhiệt độ tối ưu là 450 °C trong thời gian nung 2 giờ. Ở chế độ này, than sinh học đạt hiệu suất 80,11%, có dung tích trao đổi cation CEC cao nhất đạt 81,82 meq/100g, pH kiềm 7,92, hàm lượng chất hữu cơ đạt 6,869% và bảo toàn được tối đa các dưỡng chất N, P, K, Ca, Mg dễ tiêu.

Than sinh học tác động thế nào đến độ chua và khả năng giữ dinh dưỡng của đất bãi thải than? Than sinh học đóng vai trò như chất cải tạo kiềm tính, bổ sung các cation Ca2+ và Mg2+ hòa tan (đạt 24,0 mgđl/100g) giúp trung hòa độ chua, nâng pH đất từ 4,5 lên 6,7 - 6,9. Đồng thời, cấu trúc vi xốp và điện tích âm làm tăng dung tích trao đổi cation CEC của đất từ 5,5 lên 16,5 meq/100g, hạn chế rửa trôi khoáng chất.

Tại sao cần phối hợp trồng cây cỏ đậu cùng với bón than sinh học trong cải tạo đất? Cây cỏ đậu có sinh khối lớn (150 tấn chất xanh/ha/năm) và chứa 2,5 - 3,0% N. Sự kết hợp này tạo môi trường thuận lợi cho nốt sần rễ cố định đạm tự do, đưa hàm lượng nitơ tổng số trong đất tăng mạnh lên 0,323% (gấp hơn 5 lần so với nền đất ban đầu 0,06%), giúp thiết lập thảm thực vật bền vững.

Than sinh học có khả năng cố định và xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất mỏ không? Có hiệu quả rất rõ rệt. Khi bón 10% biochar kết hợp cỏ đậu sau 12 tuần, hàm lượng kim loại nặng chiết xuất được trong đất bãi thải Khe Hùm giảm mạnh nhờ cơ chế kết tủa kiềm và tạo phức bề mặt: nồng độ đồng giảm 45,6%, kẽm giảm 25,4%, chì giảm 36,0%, cadimi giảm 53,6% và asen giảm 52,4%.

Kết luận

Nghiên cứu đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu khoa học và thực tiễn với năm đóng góp nổi bật:

• Xác định chính xác đặc tính hóa lý của mùn cưa cây keo với hàm lượng hữu cơ 70,12%, tỷ lệ C:N cao 1275:1 và tổng hợp phần lignocellulose đạt 79,95%. • Tối ưu hóa thành công quy trình công nghệ nhiệt phân ở 450 °C trong 2 giờ, tạo ra sản phẩm than sinh học chất lượng cao với chỉ số CEC đạt 81,82 meq/100g và pH đạt 7,92. • Minh chứng thực nghiệm khả năng cải thiện đất bãi thải Khe Hùm: nâng pH từ 4,5 lên 6,9, tăng dung tích trao đổi cation CEC lên gấp 3 lần và nâng hàm lượng chất hữu cơ lên 2,16%. • Khám phá hiệu ứng cộng hưởng giữa biochar và cây cỏ đậu, giúp gia tăng hàm lượng đạm tổng số trong đất hơn 540% và giảm thiểu từ 25% đến 53% hàm lượng kim loại nặng linh động (Cu, Zn, Pb, Cd, As). • Đề xuất mô hình kinh tế tuần hoàn khả thi, giải quyết đồng thời bài toán xử lý phế phẩm lâm nghiệp và hoàn nguyên sinh thái bãi thải khai thác than.

Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2021 - 2023 tập trung vào việc thử nghiệm mở rộng mô hình cải tạo trên diện tích 5 đến 10 ha tại thực địa bãi thải mỏ than Khe Hùm nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật hoàn nguyên cấp ngành. Các doanh nghiệp khai khoáng và chế biến lâm sản cần chủ động liên kết đầu tư công nghệ nhiệt phân sinh khối để biến chất thải thành nguồn tài nguyên quý giá, hướng tới phát triển bền vững và trung hòa carbon.