Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp nhiệt điện than tại Việt Nam với 25 nhà máy đang vận hành hàng năm phát thải khoảng 13 triệu tấn tro xỉ, trong đó tro bay chiếm từ 80% đến 85%. Tình trạng các bãi chứa tro xỉ tại Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh) và nhiều nhà máy trên toàn quốc ngày càng quá tải đã tạo ra áp lực môi trường vô cùng cấp bách. Cùng lúc đó, việc sản xuất gạch đất sét nung truyền thống chiếm từ 90% đến 95% tổng sản lượng vật liệu xây, làm tiêu tốn khoảng 50 triệu m3 đất sét canh tác và 5 triệu tấn than mỗi năm, đồng thời phát thải hơn 0,57 triệu tấn CO2 gây hiệu ứng nhà kính.

Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu trong Quyết định số 452/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh tái sử dụng tro xỉ làm vật liệu xây dựng, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học tại Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG-HCM tập trung nghiên cứu giải pháp chế tạo gạch không nung 4 lỗ chất lượng cao từ nguồn tro bay và tro xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1. Mục tiêu cốt lõi là thay thế từ 40% đến 70% hàm lượng xi măng bằng tro bay và tro xỉ kết hợp đá mi, đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật mác M7,5 theo TCVN 6477:2016 và TCVN 6355:2009.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm toàn diện từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023 tại Trà Vinh và TP. Hồ Chí Minh. Kết quả công trình mang ý nghĩa chiến lược khi vừa giúp giảm từ 25% đến 35% chi phí nguyên liệu sản xuất gạch xây, vừa giải quyết triệt để hàng triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong ngành xây dựng đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng hóa học vô cơ và vật liệu xây dựng, kết hợp hai mô hình phản ứng chính:

  1. Cơ chế thủy hóa xi măng Portland: Quá trình thủy phân các khoáng Alit (C3S) và Belit (C2S) khi tiếp xúc với nước tạo ra các liên kết Calcium Silicate Hydrate (C-S-H) và phóng thích ion Ca2+ cùng môi trường kiềm Ca(OH)2. Gel C-S-H đóng vai trò khung liên kết chính lấp đầy các vi lỗ rỗng trong cấu trúc khối gạch.
  2. Quá trình Geopolymer hóa (Polymer vô cơ): Dựa trên lý thuyết của GS. Joseph Davidovits (1972), các hợp chất aluminosilicate vô định hình trong tro bay khi gặp môi trường kiềm sinh ra từ phản ứng thủy hóa của xi măng sẽ trải qua quá trình đa ngưng tụ. Phản ứng này hình thành chuỗi liên kết poly(sialate) mạng lưới ba chiều bền vững có công thức Mn{-(SiO2)z-AlO2-}n, gia tăng độ kết dính và độ bền cơ học.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: tro bay loại F theo chuẩn ASTM C618 và TCVN 10302:2014, hoạt tính puzolanic, cấp phối thể tích tuyệt đối, tỷ lệ nước trên chất kết dính (N/CKD dao động từ 0,16 đến 0,18) và cường độ nén phá hủy.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ bãi chứa Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 với 1.000 kg tro bay và 1.000 kg tro xỉ. Phương pháp lấy mẫu tuân thủ nguyên tắc xáo trộn đại diện: thu thập tại 5 vị trí ngẫu nhiên trên bãi chứa, mỗi vị trí lấy 3 mẫu con rồi trộn đều để đảm bảo tính đồng nhất.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 18 cấp phối sơ bộ trong phòng thí nghiệm, từ đó tối ưu hóa thành 4 cấp phối chính (mã hóa CP4, CP8, CP14, CP15) với hàm lượng tro bay dao động từ 40% đến 70%. Quy trình tạo mẫu sử dụng khuôn chuẩn 40×40×160 mm cho vữa và đúc thử nghiệm hơn 300 viên gạch 4 lỗ công nghiệp trên máy ép thủy lực.

Các phương pháp phân tích cơ lý gồm đo cường độ nén và uốn ở các mốc 7 ngày, 14 ngày và 28 ngày bảo dưỡng ẩm theo TCVN 6355:2009 và TCVN 6477:2016. Phân tích an toàn bức xạ được thực hiện trên hệ phổ kế gamma phông thấp GC3520 nhằm định lượng hoạt độ phóng xạ tự nhiên. Phương pháp thể tích tuyệt đối được lựa chọn vì giúp kiểm soát chính xác độ đặc chắc của 1 m3 vữa gạch và tối ưu hóa lượng nước thêm vào dựa trên độ ẩm thực tế của vật liệu. Toàn bộ chuỗi thí nghiệm hoàn thành đúng tiến độ trong 10 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm nổi bật về đặc tính vật liệu và hiệu năng sản phẩm:

  1. Tính chất cơ lý nguyên liệu: Tro bay Duyên Hải có khối lượng riêng 3,40 kg/L, độ ẩm 3,84%; tro xỉ có khối lượng riêng 1,98 kg/L, độ ẩm 5,90%; xi măng Hà Tiên PCB40 đạt khối lượng riêng 3,15 kg/L và đá mi là 2,77 kg/L với độ ẩm 0,99%.
  2. Cường độ chịu nén vượt trội: Cấp phối CP4 (50% tro bay, 10% tro xỉ, 30% xi măng, 10% đá mi) và CP8 (40% tro bay, 35% tro xỉ, 20% xi măng, 5% đá mi) cho cường độ nén sau 28 ngày đạt trên 8,5 MPa theo TCVN 6477:2016, vượt mức yêu cầu của mác M7,5. Ngay cả cấp phối CP14 sử dụng tới 70% tro bay và chỉ 15% xi măng vẫn đạt độ bền nén xấp xỉ 6,5 - 7,2 MPa.
  3. Độ hút nước kiểm soát tốt: Độ hút nước của 4 cấp phối duy trì trong khoảng 8,2% đến 11,8%, thấp hơn đáng kể so với giới hạn tối đa 14% quy định tại TCVN 6355-4:2009.
  4. An toàn bức xạ và kim loại nặng tuyệt đối: Nồng độ các kim loại nặng (Pb, As, Cd, Cr) trong tro xỉ thấp hơn từ 10 đến 100 lần so với ngưỡng ngâm chiết của QCVN 07:2009/BTNMT. Hoạt độ phóng xạ đo bằng hệ GC3520 khẳng định chỉ số an toàn bức xạ gamma và radon đều nằm trong ngưỡng an toàn của Ủy ban Châu Âu EC (1999).

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng cường độ cơ học của gạch không nung được giải thích bởi hiệu ứng kép: hiệu ứng điền đầy của các hạt tro bay siêu mịn giúp bịt kín các mao quản rỗng, kết hợp với phản ứng puzolanic thứ cấp chuyển hóa Ca(OH)2 tự do thành gel C-S-H bền vững. So sánh với các nghiên cứu của Eliche-Quesada (2012) tại Tây Ban Nha và A. Mukhtar (2020), kết quả luận văn này cho thấy việc phối trộn thêm đá mi kích cỡ nhỏ đã cải thiện bộ khung chịu lực, giúp giảm tỷ lệ xi măng xuống 10 - 20% mà không gây sụt giảm cường độ đột ngột như các loại gạch chỉ dùng tro bay và vôi.

Khi tổng hợp dữ liệu, mối liên hệ giữa cường độ chịu nén theo TCVN 6477:2016 và TCVN 6355-2:2009 thể hiện rõ qua biểu đồ tương quan tuyến tính chặt chẽ. Đồ thị phát triển cường độ nén theo ngày tuổi cho thấy sản phẩm đạt khoảng 65 - 70% cường độ thiết kế ngay tại 7 ngày tuổi và phát triển ổn định đến 28 ngày, chứng minh tính khả thi cao khi ứng dụng vào dây chuyền sản xuất quy mô công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh ứng dụng thực tiễn của gạch không nung từ tro bay và tro xỉ nhiệt điện, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

  1. Chuẩn hóa quy trình tiền xử lý nguyên liệu: Các doanh nghiệp sản xuất gạch cần lắp đặt hệ thống tuyển nổi và tách than dư nhằm duy trì hàm lượng mất khi nung (LOI) dưới 5%, đồng thời sàng lọc hạt tro xỉ đồng đều dưới kích thước 2 mm trước khi nạp liệu. Thời gian triển khai từ Quý I/2024 đến Quý IV/2024.
  2. Ứng dụng công nghệ ép tĩnh rung áp lực cao: Khuyến nghị các nhà máy chuyển đổi sang dây chuyền ép thủy lực với lực ép định hình từ 25 đến 30 MPa nhằm tối ưu hóa độ đặc chắc của cấp phối CP4 và CP8, mục tiêu đạt sản lượng từ 15 đến 20 triệu viên/năm cho mỗi cơ sở trong giai đoạn 2024 - 2025.
  3. Ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên biệt: Bộ Xây dựng cùng Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm xây dựng tiêu chuẩn quốc gia riêng cho gạch không nung sử dụng trên 50% tro xỉ, thay vì áp dụng tương đối theo tiêu chuẩn gạch đất sét nung hoặc gạch bê tông thông thường, hoàn thành trước năm 2026.
  4. Thiết lập cơ chế liên kết chuỗi cung ứng tro xỉ: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ban Quản lý Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải cần hợp tác dài hạn với các đơn vị sản xuất vật liệu để hỗ trợ bãi chứa khô và chi phí vận chuyển, mục tiêu tiêu thụ ít nhất 60% tổng lượng tro xỉ phát thải hàng năm từ năm 2024 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp giá trị học thuật và giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Nhà nghiên cứu và học viên sau đại học ngành Hóa vô cơ, Vật liệu Xây dựng: Sử dụng nguồn tài liệu tham khảo chuyên sâu về phản ứng geopolymer hóa, cơ chế hydrat hóa và quy trình kiểm định cơ lý, phóng xạ chuẩn quy chuẩn Việt Nam.
  2. Chủ doanh nghiệp và kỹ sư vận hành nhà máy sản xuất gạch không nung: Tiếp cận công thức cấp phối tối ưu CP4 và CP8 giúp tiết kiệm từ 30% đến 50% lượng xi măng đầu vào, nâng cao biên lợi nhuận và chuẩn hóa dây chuyền ép tĩnh.
  3. Cơ quan quản lý môi trường và ban lãnh đạo các nhà máy nhiệt điện than: Tham khảo giải pháp kỹ thuật khả thi để xử lý dứt điểm các bãi chứa tro xỉ quy mô lớn, đáp ứng các tiêu chuẩn xả thải và quy định bảo vệ môi trường của Chính phủ.
  4. Kỹ sư kết cấu và đơn vị tư vấn giám sát công trình: Nắm vững các thông số kỹ thuật về độ hút nước dưới 12%, khả năng chịu uốn và độ an toàn bức xạ để tự tin chỉ định gạch không nung tro xỉ cho các dự án xây dựng dân dụng lẫn công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Gạch không nung chứa tro bay nhiệt điện có phát tán phóng xạ hoặc gây nguy hiểm cho người dùng không? Hoàn toàn không. Kết quả đo hoạt độ bức xạ bằng hệ phổ kế gamma GC3520 xác nhận nồng độ phóng xạ tự nhiên và suất phát xạ radon từ các mẫu gạch tro bay Duyên Hải đều thấp hơn nhiều so với giới hạn an toàn quốc tế của Ủy ban Châu Âu EC (1999). Hàm lượng kim loại nặng cũng đạt chuẩn an toàn theo QCVN 07:2009/BTNMT.

  2. Cấp phối nào cho hiệu quả cơ lý và kinh tế tối ưu nhất trong nghiên cứu? Cấp phối CP4 (50% tro bay, 10% tro xỉ, 30% xi măng, 10% đá mi) và CP8 (40% tro bay, 35% tro xỉ, 20% xi măng, 5% đá mi) là tối ưu nhất. Cả hai cấp phối này đều đạt cường độ nén 28 ngày vượt mốc 8,5 MPa, đáp ứng tiêu chuẩn mác M7,5 với chi phí nguyên liệu giảm hơn 30%.

  3. Gạch không nung tro xỉ có bị thấm nước nhiều hơn gạch nung truyền thống không? Không. Nhờ các hạt tro bay siêu mịn chèn chặt các khoảng trống giữa cốt liệu đá mi và chất kết dính, độ hút nước của gạch chỉ dao động từ 8,2% đến 11,8%, hoàn toàn thấp hơn mức giới hạn 14% của TCVN 6355-4:2009, giúp ngăn ngừa ẩm mốc và rêu phong hiệu quả.

  4. Sử dụng tro bay thay thế xi măng giúp giảm giá thành một viên gạch bao nhiêu? Nhờ tận dụng nguồn phế phẩm tro bay và tro xỉ giá rẻ tại bãi chứa kết hợp giảm đến 50% lượng xi măng tiêu tốn, chi phí cấu thành nguyên liệu cho một viên gạch thành phẩm giảm khoảng 25% đến 35% so với việc sử dụng cát đá và xi măng thuần túy.

  5. Quy trình bảo dưỡng gạch không nung tro bay có phức tạp và tốn năng lượng không? Quy trình bảo dưỡng rất đơn giản và tiết kiệm năng lượng. Gạch sau khi ép tạo hình chỉ cần lưu bãi và phun ẩm tự nhiên ở nhiệt độ phòng trong 5 đến 7 ngày là có thể xuất kho, không cần trải qua công đoạn sấy nhiệt hay chưng áp tốn kém điện năng.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc xác lập 4 cấp phối gạch không nung tối ưu từ tro bay, tro xỉ Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải kết hợp xi măng PCB40 và đá mi.
  • Sản phẩm gạch 4 lỗ đạt cường độ chịu nén trên 7,5 MPa sau 28 ngày, đạt chuẩn mác gạch M7,5 theo TCVN 6477:2016 và TCVN 6355:2009.
  • Chỉ tiêu độ hút nước dưới 12% cùng độ an toàn bức xạ tuyệt đối theo chuẩn quốc tế khẳng định tính khả thi cao khi ứng dụng vào công trình thực tế.
  • Khái toán kinh tế chứng minh giải pháp giúp hạ giá thành sản xuất viên gạch từ 25% đến 35%, mở ra hướng đi bền vững cho các doanh nghiệp vật liệu.
  • Công trình đóng góp giải pháp thiết thực để giải phóng hàng triệu tấn tro xỉ tồn đọng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và trên toàn quốc.

Các đơn vị sản xuất và chủ đầu tư quan tâm đến việc chuyển giao công nghệ cấp phối gạch không nung tro xỉ có thể kết nối ngay với nhóm nghiên cứu để nhận tư vấn kỹ thuật chi tiết và triển khai dây chuyền công nghiệp trong giai đoạn 2024 - 2025.