Chương 1 làm rõ sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và yếu tố cá nhân đối với quan hệ Mỹ - Ấn Độ; trình bày khái quát về quan hệ Mỹ - Ấn Độ trước năm 2014, tạo tiền đề cho việc đánh giá, phân tích mối quan hệ song phương giữa Mỹ và An Độ trong giai đoạn 2014 - 2020. THỰC TRẠNG QUAN HỆ MỸ - ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 2014 - 2020 Chương 2 làm rõ thực trạng quan hệ Mỹ - An Độ trên các lĩnh vực gồm chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh giai đoạn 2014 - 2020. Từ đó, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quan hệ song phương giai đoạn 2014 - 2020. TRIEN VỌNG QUAN HE MỸ - AN ĐỘ, TAC ĐỘNG VÀ KIÊN NGHỊ CHO VIET NAM Chương 3 đưa ra những đánh giá về triển vọng của quan hệ Mỹ - An Độ cho đến năm 2030; phân tích những tác động của quan hệ Mỹ - An Độ giai đoạn 2014 - 2020 tới khu vực và Việt Nam; và đề xuất giái pháp của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và Ấn Độ trong thời gian tới.
CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN QUAN HỆ MỸ - AN ĐỘ GIAI DOAN 2014 - 2020 1. Nhân tố bên ngoài 1. Sự trỗi dậy của Trung Quốc Thứ nhất, sau hơn 30 năm thực hiện cải cách và mở cửa, sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc đã gia tăng đáng kể và không ngừng mở rộng ảnh hưởng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự vươn lên của Trung Quốc thể hiện ở tất cả các lĩnh vực, trong đó kinh tế và quân sự là mạnh mẽ nhất.
Về tăng trưởng kinh tế, trong 30 năm đầu cải cách và phát triển (1980 - 2010), kinh tế Trung Quốc luôn duy trì tăng trưởng ở mức cao, GDP tăng trưởng bình quân hang năm đạt 9,8%/năm. Trung Quốc từ một nền kinh tế chỉ bằng 1/3 của Nhật Bản, 1/§ của Liên minh châu Âu (EU) năm 2001, nhưng đến năm 2010 kinh tế Trung Quốc đã vượt cả EU và Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ [Thanh Bình, 2010]. Dựa trên đà tăng trưởng nổi bật nói trên, Trung Quốc tiếp tục đưa ra những tham vọng trong phát triển kinh tế, đặt mục tiêu đưa nền kinh tế trong nước chuyền sang giai đoạn phát triển chất lượng cao. Về đầu tư, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO (2001), tốc độ tăng trưởng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tăng nhanh chóng.
Năm 2008, lần đầu tiên đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vượt 50 ty USD và các năm tiếp theo đều liên tục tăng. Tính đến năm 2011, các nhà đầu tư Trung Quốc đã đầu tư vào 18.000 công ty nước ngoài tại 178 quốc gia và khu vực trên thế giới, đứng thứ 17 trên thế giới. Vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tập trung nhiều nhất tại châu Á là 228,1 tỷ USD (chiếm 71,9% đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc). Trong đó, đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN không ngừng tăng.
Nếu như năm 2003, đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN chỉ là 130 triệu USD, thì đến năm 2010 đã đạt 4,4 tỷ USD 11 [Công thông tin điện tử Quốc vụ viện Trung Quốc, 2013]. Những năm gần đây, ASEAN trở thành điểm đến quan trọng về đầu tư nước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc trở thành chủ đầu tư của hành loạt các dự án cơ sở hạ tang quan trong tai cac nudc ASEAN, nhu: Du án viễn thông ở Campuchia, dau tư cảng ở Thái Lan, khai thác mỏ Potash ở Lào, luyện kim ở Indonesia, khai thác mỏ sắt ở Malaysia, xây dựng cơ sở hạ tang giao thông ở Philippines [inclusivedevelopment. Dưới sự đề xuất của Trung Quốc, quỹ Hop tác đầu tư Trung Quốc - ASEAN, Tổ chức liên ngân hàng Trung Quốc - ASEAN lần lượt ra đời, đặc biệt là sự ra Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) vào năm 2016 đã giúp Trung Quốc tăng cường kết nối đầu tư với ASEAN.
Về thương mại, quan hệ thương mại của Trung Quốc với các nước cũng tăng mạnh. Với Mỹ, sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, kim ngạch thương mại song phương Trung - Mỹ liên tục tăng và cán cân luôn nghiêng về phía Trung Quốc, khi thâm hụt thương mại của Mỹ tăng từ 100 tỷ USD năm 2001 lên đến 375 tỷ USD năm 2017. Với ASEAN, sau khi Trung Quốc và ASEAN ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện (01/2002) dé thành lập Khu vực thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN, thương mại hai chiều đã tăng trung bình 26%/nam trong giai đoạn 2003 - 2010, từ 39,4 tỷ USD năm 2010 lên đến 293 ty USD năm 2010. Năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Ban và EU trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN (chiếm 11,3% tổng thương mại của ASEAN), còn ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng khởi động đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với Hàn Quốc (05/2012) dé trở thành một trong các đối tác thương mại lớn của Hàn Quốc và khởi động một số hoạt động khác. Về quốc phòng - an ninh, Trung Quốc chủ trương xây dựng nền quốc phòng vững chắc, quân đội hùng mạnh, góp phần thực hiện “giấc mơ phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” [Hồ Quang Lợi, 2013]. Ngày 08/12/12, phát 12 biểu khi đến thăm và làm việc tại Chiến khu Quảng Châu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tap Cận Bình nêu rõ: “Có thể nói, phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa là giấc mơ cường quốc, đối với quân đội là giấc mơ quân đội hùng mạnh. Muốn thực hiện phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, chúng ta cần kiên trì thống nhất giữa đất nước giàu có và quân đội hùng mạnh, nỗ lực xây dựng quốc phòng vững chắc, quân đội hùng mạnh” [Tập Cận Bình, 2015, tr.
Theo đó, sức mạnh quân sự Trung Quốc không ngừng được tăng cường và Trung Quốc đang trở thành một cường quốc quân sự thế giới. Với tiềm lực kinh tế ngày càng tăng, Trung Quốc luôn coi trọng đầu tư cho quốc phòng - an ninh nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thé, lợi ích quốc gia và hỗ trợ chiến lược trở thành cường quốc toàn cầu. Theo báo cáo nội bộ của Trung Quốc, ngân sách quốc phòng năm 2010 của Trung Quốc là 116,4 tỷ USD. Trong giai đoạn từ năm 2011 - 2014, chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc liên tục tăng (năm 2010 là 80,6 ty USD, năm 2011 là 92 tỷ USD, năm 2012 là 106,6 tỷ USD, năm 2013 là 119 ty USD, năm 2014 là 130 ty USD) [The National Interest, 2020].
Với sự đầu tu đó, sức mạnh quân sự của Trung Quốc không ngừng được cải thiện. Điển hình trong đó là sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng. Ngành công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc không ngừng lớn mạnh. Bên cạnh việc mua những phương tiện, vũ khí hiện đại của Nga, Trung Quốc đã và đang dần làm chủ công nghệ phương tiện, vũ khí hiện đại.
Sau khi sở hữu tàu Liêu Ninh - vốn được mua lại từ Ukraine, Trung Quốc đã phát triển thêm đến 3 lớp tàu sân bay Type-001A, Type-002 và Type-003 [Tuấn Anh, 2020]. Kèm theo việc phát triển tàu sân bay, Trung Quốc cũng đây mạnh quá trình phát triển máy bay chiến dau dé sử dụng kèm theo tau sân bay. Hiện nay, Trung Quốc đang tập trung hoàn thiện quá trình triển khai tác chiến máy bay tiêm kích J-15 cho tàu sân bay và đang đây mạnh tốc độ hoản thiện các loại chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình là J-20 và J-31 [vietnamnet, 2020]. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang theo đuôi kế hoạch nâng cấp và 13 củng cố kho tên lửa chống hạm, tên lửa tầm xa.
Hiện Trung Quốc là một trong những nước có kho vũ khí và tên lửa đa dạng và lớn nhất thế giới. Trong đó, tên lửa DF-26 có khả năng mang cả đầu đạn thông thường và đầu đạn hạt nhân, còn được gọi là “sát thủ diệt Guam” [Văn Khoa, 2019]. Ngoài ra, Trung Quốc nỗ lực gia tăng sự can dự và ảnh hưởng tại các cơ chế hợp tác an ninh khu vực thông qua ASEAN. ASEAN ngày càng phát huy vai trò chủ đạo, định hướng xây dựng cấu trúc hợp tác khu vực về hòa bình, an ninh, phát triển thông qua việc khởi xướng và thành lập, dẫn dắt mạng lưới các tổ chức hợp tác khu vực trong ASEAN, giữa ASEAN với các đối tác, như: ASEAN+1, ASEAN+3, Diễn dan an ninh ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM+) và Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS).
Các diễn đàn này đã trở thành những khuôn khổ đối thoại và hợp tác hiệu quả về xây dựng lòng tin, đảm bảo hòa bình, 6n định, an ninh ở khu vực. Nhận thấy vai trò quan trọng của hợp tác an ninh đa phương trên, Trung Quốc đã tích cực tham gia vào tất cả các cơ chế hợp an ninh đa phương do ASEAN dẫn dắt. Thậm chí, Trung Quốc còn chấp nhận những quy tắc chung điều chỉnh quan hệ và các hành vi ứng xử khi đồng ý tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tac 6 Đông Nam A (TAC). Trung Quốc cũng đã chấp nhận cùng ASEAN ký Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).
Sau khi tham gia vào tat cả các cơ chế hợp an ninh đa phương khu vực, vai trò và sự chi phối, can dự của Trung Quốc ngày cảng tăng. Điển hình là, năm 2012, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45, dưới sự tác động của Trung Quốc, lần đầu tiên ASEAN không ra được Tuyên bố chung, do bất đồng liên quan đến nội dung chỉ trích những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Như vậy, Trung Quốc trở thành một nhân tố quan trọng trong các định chê an ninh khu vực, nhưng cũng tạo ra nhiêu áp lực đôi với các nước. 14 Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc đe dọa sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ, dù Mỹ vẫn là siêu cường số 1.
Sau chiến tranh Lạnh, Mỹ trở thành siêu cường số 1 trên thế giới. Sức mạnh của Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học công nghệ, văn hoá khó có thê nước nào sánh kịp trong thời gian dài. Vị thế của Mỹ dường như là khó có khả năng thay thế. Với ưu thế đó, chính quyền Mỹ ra sức bảo vệ và duy trì vị thế bá chủ thế giới, lãnh đạo toàn cầu, đồng thời ngăn chặn không dé bat kỳ nước nao thách thức địa vị của mình.