MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vẫn đề Bình Thuận là một trong số rất nhiều tỉnh ven bờ biển của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng về du lịch như việc xây dựng nhà hang, khách sạn ngay cảng nhiều dọc theo bờ biến. Việc này mang lại lợi ích kinh tế xã hội rất lớn cho tỉnh. Về mặt địa lý, phía bac Bình Thuận giáp với Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Đông Nai, và phía Nam giáp Vũng Tàu. Bình Thuận có hai mùa rõ rệt với nhiệt độ cao, sông ngòi ngắn và nhỏ, gid mạnh, nhiều đụn cát và bãi cát vàng trai dài ven bién.
Dọc theo 190km đường bờ, Bình Thuận có 6 cửa sông (Long Hương, Phan Rí, Phú Hải, Thương Chánh, Tân Hải và Lagi) và nhiều mũi đá hay hốc đá (La Gan, Mũi Nho, Mũi Rơm, Mũi Né, Mũi Kê Gà). Bình Thuận cũng có nhiều công trình ven bờ và công trình chỉnh trị cửa sông được xây dựng nhằm phát triển nghề cá và đảm bảo an toàn luồng lạch (kè biển Hàm Tiến, mỏ hàn cửa sông Ca Tu, Lagi. Gan day, Binh Thuận cũng đã phát triển kỹ nghệ du lich tại địa phương. Nhiều công trình nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ mát cao cấp đã được dựng lên dọc theo các bãi biển đẹp của địa phương (lang Thuy si, làng Nga, khách san cao cấp Novotel.) Tat cả những công trình này nhanh chóng gây ảnh hưởng đến sự thay đối bờ biên ở Hàm Tiến, cảng cá Phan Thiết, Đồi Dương.
Sự thành công của các dé chắn sóng, mỏ hàn hay đê biển đã phan nào khống chế được sự xói lở cục bộ của bờ biển tại nơi có công trình như cửa sông Phan Thiết, Lagi. Nhưng chúng lại gây nên những hậu quả như cát tràn vào cửa sông ở Lagi, xói lở bờ hạ lưu cửa mỏ hàn ở cửa sông cảng cá Phan Thiết. Xói lở bờ biển được khống chế khá tốt tại khu vực Hàm Tiến — Mũi Né nhưng khu vực xói lở đã dịch chuyên vẻ phía hạ lưu như Phú Hải, Đồi Dương. Do đó, việc tính toán xói lở tại Đồi Dương là rất cấp thiết, từ đó có thé đưa ra biện pháp khắc phục xói lở và hướng phát triển xa hơn là tính toán sự ồn định cho bờ bién tại nơi đây.1: Khu vực Đôi Duong, Binh Thuận 1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu bản chất vật lý và mô hình vận chuyển bùn cát vùng ven biến.
- Sử dụng m6 hình toán sô nghiên cứu diên biên khu vực Đôi Duong dé làm rõ bản chất xói bôi tại đây và đề xuất phương pháp bảo vệ.3 Phuong pháp nghiên cứu - Phương pháp mô hình số, trong đó: + Phương trình Saint — Vennant hai chiều + Phương trình vận tải chất trong dòng chảy hai chiều nước nông + Phương trình diễn biến đáy (Exner) + Các công thức kinh nghiệm + Mô hình sóng - Phương pháp giải: thể tích hữu hạn 1.4 Nội dung nghiên cứu - Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khu vực Đôi Dương, Phan Thiết - Nghiên cứu bản chat vật lý của quá trình vận chuyển bùn cát vùng ven biến, mô hình tính toán thủy lực và bồi xói bờ biển. - Ap dụng mô hình toán dé tính toán quá trình động lực và diễn biến xói bồi tại khu vực Đôi Dương - Dé xuất biện pháp bảo vệ 1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của dé tài Tìm ra được hiện trạng, nguyên nhân gây xói lở tại Đồi Dương. từ đó đưa ra hướng giải quyết, góp phần thúc day nền kinh tế du lịch, bảo vệ bờ biến tại địa phương. Chương 2 DIEU KIEN TỰ NHIÊN VA TINH HÌNH XÂM THỰC VÙNG BIÊN VEN BỜ BÌNH THUẬN 2.1 Điều kiện tự nhiên 2.1 Điều kiện khí hậu Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ Việt Nam, với bờ bién dai 192 km từ mũi Đá Chet giáp Cà Na (Ninh Thuận) đến bãi bồi Binh Châu (Ba Ria- Vũng Tàu).
Phía bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía tây bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây nam giáp tinh Ba Rịa - Vũng Tàu. Theo Quy chuẩn Xây dựng QCVN 02: 2009/BXD [10], nhiệt độ và lượng mưa tại Phan thiết được cho trong bảng 2.1: Nhiệt độ không khí tháng và năm (°C) Nhiệt Tháng Năm độ L|ÌH|LHr|EIV|LV |VI|VH|VH|IXLX | xt | xo Trung bình | 248 | 254 | 26.6 | 21,7 | 203 | 18,1 | 124 | 124 Biên độ | gy | 74 | 691 ngay TB 66169170168! 671661 67174179] 70 Bang 2.2: Luong mua theo thang Luong mua Thang Nam (mm) 1|u}miliv! v/v] vil viol wx! x | xr | xu Trung bình | 1 | 0 | 6 | 30 | 136] 145 | 165 | 164 | 192] 155] 58 | 20 | 1072 Muangay lon nhat | 5 | 5 | 121] 102| 1781 1321 so | 98 | 162 | 157/215] 86 | 215 Qua hai bang trén ta thay, tinh Binh Thuận mang đặc trưng của khí hau nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mưa khô. Nhiệt độ trung bình ở đây khoảng 27°C, nhiệt độ cao nhất thường xuất hiện từ tháng 4 tới tháng 6 và giữ trên mức trung bình tới tháng 10. Chính vì thế khả năng bốc hơi nước trong thời gian nay tăng lên, gây mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 (trung bình hơn 150mm).
Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. nhiệt độ giảm xuống, mức trung bình trong những tháng này khoảng 25°C, kéo theo lượng mưa giảm nhanh chóng, chỉ còn 58mm trong tháng 11 và từ thang 1 đến tháng 3 thì gần như không có mưa. Tuy nhiệt độ ban ngày ở đây khá cao (trung bình khoảng 36°C) nhưng lượng mưa ở Bình Thuận trung bình năm khoảng 1072mm, thấp hơn rất nhiều so với lượng mưa trung bình của cả nước (trên 1500mm). Do mang tính chât của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên ở tỉnh Bình Thuận hàng năm có hai mùa gió chính: gió mua Dong Bac và gió mua Tây Nam.
Toc độ và hướng gió lớn nhất tại trạm Phan Thiết được cho trong bảng 2.3: Hướng và tốc độ gió lớn nhất tháng trạm Phan Thiết từ 2003 đến 2008 [10] Tháng | H IH IV Vv VI | VH | VIH | IX X XI | XI Tốc độ (m/s) 12 11 12 10 10 7 8 9 10 10 9 10 Huong NE | E E E E W | W |WSW|I E E E E Theo bảng 2.3 ta thấy, gió mùa Đông Bắc từ tháng 6 đến tháng 9, với vận tốc gió trung bình khoảng 8m/s (cấp 5 theo thang Bô-pho), hướng chính là Tây va Tây Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, vận tốc gió trung bình hơn 10m/s (cấp 5) hướng chính là Đông và Đông Bắc. Theo Quy chuẩn Xây dựng QCVN 02: 2009/BXD [10], các thông số gió đặc trưng tại Phan thiết được cho trong bảng 2.4: Vận tốc gió trung bình tháng va năm (m/s) Tháng Trạm Năm | H | HI | IV | V | VI | VH | VHI | IX | X | XI | XI Phan Thiết | 4.9133 [28130129] 33 |26|25|31|32| 32 Theo cơ quan Khí tượng Hoa ky (NOAA), trên toàn biển Đông, mùa gió Tây Nam bat dau từ tháng 6 tới tháng 8, còn mùa gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau. Tháng 4, 5 và 9, 10 là thời gian chuyển mùa.
Trong mùa gió Tây Nam, vận tốc gió ở khu vực giữa biển Đông có thể lên tới 7m/s còn trong mùa gió Đông Bac, vận tốc gió ở khu vực giữa biển Đông có thé lên tới 10m/s [6]. Do nam về cuối miền Trung, nên tỉnh Bình Thuận ít chịu ảnh hưởng của bão so với các tinh còn lại. Từ năm 1961 đến 2008, thống kê có 64 cơn bão đồ bộ ảnh hưởng lên vùng biến Bình Thuận (theo Quy chuẩn Xây dựng QCVN 02: 2009/BXD). Cac cơn bão thường tập trung vào tháng 10 và 11.2 Điều kiện thủy hải văn 2.1 Thủy triéu Thủy triều khu vực ven bờ tỉnh Bình Thuận có chế độ triều khá phức tạp, chế độ nhật triều ở phía Bắc và bán nhật triều ở phía Nam.
Thời gian triều dâng thường lâu hơn triều rút, và có biên độ triều khoảng 1. Triều trên biển Đông lan truyền theo hướng từ phía Bắc xuống phía Nam nên thủy triều Phan Thiết chậm pha hơn thủy triều Phan Rí. Phân tích số liệu đo cho thay các sóng bán nhật triều tới Phan Thiết trễ hơn khoảng 1 giờ so với Phan Ri trong khi sóng nhật triều chỉ trễ hơn khoảng 5 phút. Tuy nhiên nếu nhìn vào chỉ tiết thì dường như chân triều giữa 2 nơi nay hầu như xảy ra đồng thời nhưng đỉnh triều Phan Thiết xuất hiện sau đỉnh triều Phan Rí khoảng 1 giờ [6].2 Dòng cháy ven bờ Dòng chảy ven bờ biển Bình Thuận gây ra chủ yếu bởi 2 yếu tố: thủy triều va gió mùa.
Trong 2 yếu tố nay, thủy triều có thời gian đặc trưng tính bằng ngày còn gió mùa có thời gian đặc trưng tính băng mùa. Do vậy dòng chảy chủ đạo sẽ là dòng chảy gây ra bởi gió mùa còn thủy triều sẽ làm dòng chảy thực tế dao động quanh giá trị chủ đạo này [6]. Vào mùa Đông, chế độ dòng chảy ven bờ tỉnh Bình Thuận chịu chi phối của hệ thống hoàn lưu biển Đông, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, dòng chảy ven bờ là nhánh phía tây của hoàn lưu biển Đông với hướng chủ đạo là hướng Nam và Tây Nam với tần suất 70 — 80%, với tốc độ khoảng 90 — 100cm/s. Vào mùa hè, dòng chảy phức tạp hơn mùa đông, dòng ven bờ biển Phú Yên — Khánh Hòa có dòng chảy ven bờ từ Bắc xuống Nam với tốc độ khoảng 25 — 40em/s, dòng ven bờ hòa nhập với luồng dòng chảy từ phía Tây Nam hướng về phía Đông Bắc ở gần Phú Quý.
Bức tranh dòng chảy mùa hè khu vực khá phù hợp với hiện tượng nước trôi. Do vậy, hướng dòng chảy mùa hè có sự phân tán, hoa dòng chảy có nhiêu hướng. Vào mùa chuyền tiếp từ đông sang hè, chế độ dòng chảy có hướng như chế độ dòng chảy mùa hè, hướng dòng chảy rất phân tán vừa có hướng chảy về Nam vừa có hướng dòng chảy lên Bac, đồng thời vừa có hướng dòng chảy vào bờ và ngược từ bờ ra.3 Sóng Biển Bình Thuận là một vùng biển hở, mở ra biển Đông, vì vậy sóng trong vùng biển này chủ yếu phát sinh từ sóng ngoài khơi truyền vào. Nói chung các nghiên cứu về sóng ở các vùng biển Việt nam tương đối thưa thớt, vùng biển Binh thuận và ngoài khơi cũng không là ngoại lệ.
Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể tham khảo số liệu sóng quan trắc tại trạm hải văn Bạch Hồ.