Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sản xuất của xã hội loài người. Trong thực tế, ngoài việc cung cấp gỗ, củi, đem lại nhiều lợi ích to lớn về mặt xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, rừng còn là một trong những ngành nghề đóng góp cho sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta cũng thay đổi từng ngày theo chiều hướng đi lên. Cây sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) là một trong những loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao ở nước ta.
Gỗ nặng, cứng, mùi thơm đặc biệt, vân thớ đẹp, có màu nâu đỏ đến nâu vàng, trong tế bào mô mềm dọc thường có tinh thể oxalat. Cấu tạo của gỗ Sưa có một số đặc điểm khác biệt so với gỗ Trắc và Cẩm lai. Gỗ Sưa có mùi thơm rất đặc biệt mà gỗ Trắc và Cẩm lai không có (Đỗ Văn Bản et al. Thời gian gần đây, cây Sưa trồng phân tán cũng như các rừng trồng Sưa tập trung đã xuất hiện những cây bị loét thân, gây héo tán lá, sau đó gỗ bị biến màu đen.
Cây thường bị nhiễm bệnh ở giai đoạn gieo ươm và trên cây dưới 1 năm tuổi, cây bị bệnh thường bị chết cành, chết thân chính và hình thành nhiều thân gây suy giảm nghiêm trọng chất lượng rừng. Các mẫu bệnh được giám định nguyên nhân là do nấm Fusarium decemcellulare và F. lateritium gây ra (Nong Phuong Nhung et al. Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Nghiên cứu phòng trừ bệnh loét thân cành cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) do nấm Fusarium decemcellulare và Fusarium lateritium ở giai đoạn vườn ươm” rất cần được thực hiện và có ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học cao.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được biện pháp phòng trừ bệnh loét thân cành cây Sưa ở trong phòng thí nghiệm và trên cây con ở giai đoạn vườn ươm. - Đánh giá được tính chống chịu bệnh của các cây trội thông qua gây bệnh nhân tạo trên cành. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học + Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn.
+ Nắm được phương pháp nghiên cứu nấm gây bệnh cây lâm nghiệp. + Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh loét thân cành trên cây sưa. + Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Giúp sinh viên học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất.
- Kết quả nghiên cứu có thể vận dụng vào sản xuất để có thể sản xuất cây giống sạch bệnh phục vụ bảo tồn và phát triển cây Sưa. - Tạo điều kiện cho sinh viên được làm quen, tiếp xúc với công tác nghiên cứu khoa học và có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất sau khi ra trường. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
Ngay từ giai đoạn đầu của lịch sử trồng trọt, con người thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão, 1997) [6]. Cây sưa (Dalbergia tonkinensis) thuộc họ đậu (Fabaceae), cao 15 – 25 m, đường kính thân 50 – 90 cm, là một trong những loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao ở nước ta. Hiện đã được xếp vào nhóm IA, nhóm thực vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (Chính phủ, 2006; Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Tiến Bân, 2007) [9]. Gỗ nặng, cứng, mùi thơm đặc biệt, vân thớ đẹp, có màu nâu đỏ đến nâu vàng, trong tế bào mô mềm dọc thường có tinh thể oxalat.
Cấu tạo của gỗ Sưa có một số đặc điểm khác biệt so với gỗ Trắc và Cẩm lai. Gỗ Sưa có mùi thơm rất đặc biệt mà gỗ Trắc và Cẩm lai không có (Đỗ Văn Bản et al. Khi đốt gỗ sưa có mùi thơm như trầm và cũng có thể chưng cấp lấy tinh dầu như Đàn hương, tinh dầu chiết xuất từ gỗ sưa được dùng làm thuốc, có tác dụng làm tan sưng, ra mồ hôi (Pham Quang Thu et al. Hoạt động gây trồng Sưa trong những năm qua ở Việt Nam phát triển rầm rộ nhưng chủ yếu sử dụng các nguồn giống không rõ nguồn gốc, chất lượng cây giống không cao (Phạm Quang Thu et al., 2014), cây con ở giai đoạn vườn ươm thường bị một số sinh vật bệnh loét thân, đốm lá (Nguyễn Minh Chí et al.
Tuy nhiên, cây Sưa trồng phân tán cũng như các rừng trồng Sưa tập trung đã xuất hiện bệnh loét thân cành do nấm Fusarium decemcellulare và F. lateritium, cây thường bị nhiễm bệnh ở giai đoạn gieo ươm và trên cây dưới 1 năm tuổi, cây bị bệnh thường bị chết cành, chết thân chính và hình thành h 4 nhiều thân gây suy giảm nghiêm trọng chất lượng rừng (Nong Phuong Nhung et al. Để giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh loét thân cành, đề tài “Nghiên cứu phòng trừ bệnh loét thân cành cây Sưa (Dalbergia tonkinensis prain) do nấm Fusarium decemcellulare và Fusarium lateritium ở goai đoạn vườn ươm” rất cần được thực hiện. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Nghiên cứu gây trồng cây sưa và cây họ đậu Cây Sưa Ấn Độ (Dalbergia sissoo Roxb) là một trong những loài cây trồng quan trọng, được trồng rừng tập trung trên quy mô lớn ở các nước Nam Á (Tantau et al. Ở Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan, Sưa sissoo đang được phát triển trồng rừng trên quy mô lớn nhằm cung cấp gỗ xẻ và nhiều mục đích khác (Aktar et al. Việc nhân giống loài cây này được nghiên cứu khá sâu, ngoài nhân giống từ hạt, hom cành, công nghệ nhân giống invitro cũng đã hoàn thiện để nhân nhanh trên quy mô lớn (Singh and Chand, 2003) [20]. Nghiên cứu khả năng nảy mầm của hạt giống thuộc các xuất xứ Sưa Trung Quốc (D.
odorifera) cho thấy yếu tố nhiệt độ có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất rõ đến sự nảy mầm của hạt giống, trong đó hạt giống nảy mầm tốt nhất ở 25oC (Liu et al. Hiện nay loài D. odorifera đã được trồng thành rừng trên quy mô lớn ở phía Nam Trung Quốc, chúng sinh trưởng tốt và đã hình thành gỗ lõi với giá trị kinh tế rất cao (Li, 2012) [16]. Loài cây này đang được mở rộng gây trồng tại Trung Quốc, trong đó kết hợp trồng hỗn loài với cây Đàn hương.
odorifera) vừa có khả năng cố định đạm và cải tạo đất rất hiệu quả đồng thời các sản phẩm từ gỗ và ngoài gỗ của cây Sưa cũng có giá trị cao nên chúng đang được trồng rất phổ biến ở Trung Quốc (Xu et al. h 5 Những kết quả nghiên cứu về thành phần hóa hoc isoflavon và dihydrophenanthren của cây sưa (Dalbergia tonkinensis). Đây là lần đầu tiên khung dihydrophenanthren được tìm thấy trong chi Dalbergia (Trần Anh Tuấn et al. Nghiên cứu sâu bệnh hại cây sưa và cây họ đậu Các loài nấm thuộc chi Fusarium là nguyên nhân gây bệnh trên nhiều loài cây trồng nông, lâm nghiệp.
Nấm Fusarium mangiferae gây bệnh trên cây xoài, F. vasinfectum gây bệnh trên cây bông, F. nicotianae gây bệnh trên cây thuốc lá, F. batatas gây bệnh trên cây thuốc lá và cây khoai lang ở Trung Quốc (LaMondia, 2015) [15].
oxysporum gây bệnh trên cây nghệ tây, nấm F. graminearum gây bệnh trên cây lúa mì (Consolo et al. Bốn loài gồm F. proliferatum gây bệnh trên cây nông nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp ở Malaysia.
Đặc biệt, nấm F. solani và Fusarium sp. gây bệnh chết ngược đối với cây Sưa sissoo tại Ấn Độ và các nước Nam Á (Arif et al. Roger (1954) đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo.
Cây keo khô héo làm lá rụng và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerella cingulata (giai đoạn vô tính là Colletotrichum gloeosporioides) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo tai tượng trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO, 1981). Tại Malaysia, theo nghiên cứu của Lee (1993) loài nấm này còn gây hại với các loài keo khác. Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng công bố nhiều loại nấm bệnh hại keo tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan. Nấm Cryptosporiopsis eucalypti gây bệnh đốm lá, khô ngọn và loét thân trên một số loài bạch đàn ở rất nhiều nước, chủ yếu các nước vùng nhiệt đới ẩm, như ở Indonesia, Braxin (Fereira et al.
Năm 2003 phát hiện trên cây cà phê ở Colombia và Venezuela (Marin et al, 2003; Pontis, 1951). h 6 Đây cũng chính là loài gây bệnh trên cây xoài ở Braxin (Ploetz, 2003; Riberio, 1980; Viegas, 1960) và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất cho cây trồng Nam Mỹ. Ở Bangladesh rừng trồng Dalbergia sissoo thường bị chết ngược do nấm Fusarium solani, tỷ lệ cây chết dao động từ 39-55% (Edward et al., 2005), một số loài vi khuẩn thuộc chi Pseudomonas và Bacillus gây loét thân và chảy nhựa trên cây Sưa sissoo (Aktar et al. Tại Ấn Độ, nấm F.
solani đã xâm nhiễm và gây bệnh chết ngược đối với cây Dalbergiasissoo (Arif et al. Ở Pakistan, bệnh chết ngược cây D. sissoo do các loài nấm F. solani, Botryodiplodiathe obromae, Curvularia lunata và Ganoderma lucidum (Ahmadetal, 2016).
tonkinensis tại Hải Nam, Trung Quốc thường bị bệnh gỉ sắt hại lá (Wang et al. Rừng trồng Sưa tại Trung Quốc thường bị bệnh gỉ sắt hại lá, nấm gây bệnh thường xâm nhiễm vào đầu tháng 4 đến đầu tháng 6 và giữa tháng 9 đến đầu tháng 11 hàng năm và nguyên nhân gây bệnh do nấm Maravalia pterocarpi gây ra (Wang et al. Nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh hại Để quản lý dịch bệnh chết héo rừng trồng bạch đàn ở Brazil, giải pháp tối ưu được áp dụng là chặt tỉa bỏ cây bị bệnh và cách ly khỏi rừng (Ferreira et al. Thí nghiệm tỉa cành cho rừng trồng keo tại Indonexia cho thấy các công thức tỉa cành đúng kỹ thuật đã hạn chế rõ rệt sự xâm nhiễm của nấm C.
acaciivora (Tarigan et al. Để phòng trừ bệnh chết héo rừng trồng keo tại Indonexia, khuyến cáo không nên sử dụng hạt giống thu từ các cây mẹ nhiễm bệnh và thay đổi cơ cấu cây trồng sau mỗi luân kỳ kinh doanh (Yong et al.