Chương 1. TONG QUAN Chương | của luận án tập trung vào việc xây dựng bối cảnh và cơ sở lý thuyết cho hệ thông nhận dạng hoạt động và phát hiện ngã của con người. Nghiên cứu xác định câu hỏi trọng tâm là làm thé nào dé phát triển FDS hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và kha thi khi triển khai trên thiết bị di động. Thông qua phân tích tổng quan về các khái niệm cơ bản, cau trúc của HAR và đánh giá các nghiên cứu liên quan, chương đã chỉ ra hai khoảng trồng nghiên cứu chính: (1) thiếu một phương pháp trích rút đặc trưng toàn diện kết hợp thông tin từ nhiều miền khác nhau; (2) chưa có giải pháp tối ưu hiệu quả cho mô hình RF trong bài toán phát hiện ngã.
Dé khắc phục những hạn chế này, nghiên cứu đề xuất hai giải pháp: (i) phương pháp trích rút đặc trưng đa miền, kết hợp các thông tin từ miền thời gian, tần số và các tham số định hướng; (ii) tối ưu mô hình RF bằng GA. Cách tiếp cận này không chỉ hứa hẹn nâng cao độ chính xác trong phát hiện ngã mà con mang tính khả thi khi triển khai trên thiết bi di động. Một số khái niệm co bản Việc đánh giá một hành động là bình thường hay bất thường không đơn giản do sự chủ quan trong nhận định của mỗi người. Đề đảm bảo tính nhất quán trong luận án, các khái niệm sau đây được thống nhất định nghĩa và sử dụng: (i) Hanh vi là những phản ứng, cách cư xử, biêu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể [39]; (ii) Bình thường là những sự việc, hành động không có gì đặc biệt hoặc khác thường [39]: Bat thường là những sự việc, hành động không tuân theo lệ thường, khác biệt so với bình thường [39]; (iii) Hành vi bình thường là các hoạt động thường ngày của con người như ngồi, năm, đứng, đi bộ, chạy, nhảy, đi lên/xuống cầu thang, v.
Hanh vi bắt thường là các hoạt động khác biệt so với các hành vi bình thường, trong luận án này là hành vi ngã. Đây là một tình trạng không mong muốn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây chan thương cho mọi người, đặc biệt là người già và người bệnh. Cấu trúc chung của hệ thống nhận dạng hoạt động Hệ thống nhận dạng hoạt động của con người thường bao gồm ba thành phần chính. Phần này sẽ trình bày tổng quan về HAR và các thành phần cấu thành của nó, được minh họa cụ thể như trong Hình 1.
THU THẬP DỮ LIỆU Ậ TRUYỀN TIN CẢNH BÁO learni. Cau trúc chung của hệ thống HAR [41-44] (1) Thu thập dữ liệu: Hệ thống này có nhiệm vụ ghi nhận các tín hiệu mô tả hoạt động của con người thông qua các cảm biến. Dữ liệu này sẽ hỗ trợ cho quá trình phát hiện hoạt động và các sự kiện ngã. (2) Mô hình nhận dạng hoạt động: Phần này thường sử dụng các thuật toán học máy hoặc học sâu dé phân tích dữ liệu đã thu thập.
Mục đích là xác định trạng thái hoạt động của người dùng, bao gồm việc đánh giá nguy cơ ngã. (3) Hệ thống truyền thông tin cảnh báo: Dam bảo rằng khi phát hiện nguy co, thông điệp cảnh báo sẽ được gửi ngay lập tức đến người chăm sóc. Điều này cho phép cung cấp sự trợ giúp kịp thời trong trường hợp xảy ra sự có. Bằng cách kết hợp ba thành phan này, hệ thống HAR có thé theo dõi, phân tích và phản ứng hiệu quả đối với các hoạt động của con người nói chung và trong việc phát hiện, ngăn ngừa các sự kiện ngã nói riêng.
Thu dữ thập liệu cho HAR Hiệu suất của HAR phụ thuộc nhiều vào phương thức sử dụng cảm biến dé thu thập dữ liệu. Các hệ thống HAR thường được phân thành các nhóm dựa trên vị trí gắn cảm biến thu dit liệu, điển hình là: (i) dựa trên các loại cảm biến môi trường xung quanh, (ii) dựa trên các loại cảm biến trên thiết bị đeo được và (iii) công nghệ cảm biến lai [5, 6]. Các loại cảm biến thông dụng của mỗi nhóm được thống kê như Hình 1. Cảm biến môi trường xung quanh Các loại cảm biến của thiết bị đeo Hình 1.
Các loại cảm biến thường dùng trong HAR 1. Các loại cảm biến môi trường xung quanh Hệ thống phát hiện ngã sử dụng nhiều loại cảm biến môi trường như camera, cảm biến âm thanh, áp suất sàn, chuyền động PIR, radar hay siêu âm dé theo dõi hoạt động và phát hiện sự kiện ngã của con người [45]. Những hệ thống này thường được áp dụng trong không gian hạn chế như viện dưỡng lão, phòng chăm sóc bệnh nhân và nhà riêng. Phương pháp này có một số hạn chế như chi phí lắp đặt và bảo trì cao, không gian giám sát bị giới han, dé bi ảnh hưởng bởi nhiễu môi trường [45] và có thể gây cảm giác xâm phạm quyền riêng tu cho đối tượng được chăm sóc [6, 45].
10 Mỗi loại cảm biến trong FDS đều có những hạn chế riêng [46]. Camera đòi hỏi băng thông và chi phi xử lý lớn, dé bi ảnh hưởng bởi điều kiện ánh sáng và vật cản, khiến việc phát hiện trường hợp ngã một cách chính xác gặp khó khăn. Cảm biến âm thanh dễ bị tác động bởi tiếng ồn bên ngoài và có thê khó phân biệt tiếng ngã với các âm thanh khác, dé bỏ lọt trường hop ngã không gây ra tiếng động mạnh. Cảm biến áp suất sàn chỉ có thé phát hiện khi ngã xảy ra trên sàn và dé bị kích hoạt bởi các hoạt động khác như đi lại.
Cảm biến PIR lại nhạy cảm với chuyền động của vật nuôi hoặc đồ vật xung quanh, dé bỏ lọt trường hợp ngã chậm. Radar tiêu tốn năng lượng lớn, giá thành cao, lắp đặt phức tạp và có nguy cơ phát xạ điện từ. Cuối cùng, cảm biến siêu âm dé bị ảnh hưởng bởi vật cản và có góc nhìn hẹp, hạn chế khả năng phát hiện ngã trong một số trường hợp. Với những hạn chế đã nêu, có thé nhận thấy các hệ thống FDS dựa trên cảm biến môi trường chưa thực sự tối ưu và phù hợp với mọi bối cảnh, đặc biệt khi cần đảm bảo quyền riêng tư, hiệu quả trong giám sát và chi phí hợp lý.
Điều nay đặt ra nhu cầu nghiên cứu và phát triển các giải pháp thay thế hoặc cải tiến phù hợp hơn cho việc phát hiện ngã trong nhiều môi trường khác nhau. Các loại cảm biến trên thiết bị đeo Trong những năm gần đây, việc xây dựng FDS từ tín hiệu quán tính đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Xu hướng nay chủ yếu do hai yếu tố: chi phí phần cứng ngày càng giảm và sự phô biến của các thiết bị di động được trang bị sẵn cảm biến quán tính [7]. FDS dựa trên thiết bị có thể đeo được (bao gồm SP, SW và cảm biến trên IMU) thu thập dữ liệu về hoạt động hàng ngày và sự kiện ngã thông qua cảm biến gia tốc, con quay hồi chuyển và cảm biến định hướng.
Ưu điểm nổi bật của hệ thống này là phạm vi giám sát không giới hạn, tính cơ động cao, ít chịu ảnh hưởng bởi nhiễu môi trường và chỉ phí triển khai thấp. Mặc dù chất lượng dữ liệu thu thập từ các thiết bị đeo chuyên dụng như IMU rất tốt, những thiết bị này thường không hoạt động độc lập. Chúng cần kết hợp với các hệ 11 thống Internet vạn vật (IoT) và/hoặc điện thoại thông minh để xây dựng FDS và truyền bản tin cảnh báo. Tuy nhiên, kiến trúc phần cứng của các hệ thống IoT có thê khá công kênh và nặng, gây nên sự khó chịu va bat tiện cho người sử dung [47].
Một thách thức khác đối với các nhà nghiên cứu là nguồn cấp điện cho hệ thống này. Do các cảm biến đeo thường có tính di động và hoạt động độc lập với nguồn điện lưới, việc sử dụng điện năng tiết kiệm là một mối quan tâm lớn. Trang bi pin lớn cho một thiết bị đeo nhỏ có thé khiến thiết bi trở nên cồng kénh hơn, trong khi sử dụng pin nhỏ sẽ buộc người dùng phải sạc lại thường xuyên [48]. Điều này tạo ra một sự đánh đổi giữa kích thước thiết bị và thời gian sử dụng, đòi hỏi các nhà thiết kế phải cân nhắc kỹ lưỡng dé tối ưu trải nghiệm người dùng.
Dữ liệu thu bằng cảm biến gia tốc Cảm biến gia tốc là một loại cảm biến được thiết kế dé ghi nhận sự thay đổi vận tốc của vật thể theo thời gian. Loại cảm biến này được ứng dụng phô biến trong HAR vì khả năng đo lường chuyên động có hướng của đối tượng theo thời gian [49, 50]. Trong SP, cảm biến gia tốc đo lường gia tốc của thiết bi theo ba trục x, y va z. Các thông số này cung cấp thông tin chi tiết về sự thay đồi tốc độ theo từng hướng, hỗ trợ theo dõi chính xác chuyên động của thiết bị.
Giá trị gia tốc thường được đo bằng m/s?, phản ánh lực tác động lên thiết bị từ chuyên động hoặc môi trường xung quanh. Ngoài ra, cảm biến này còn cung cấp thông tin về hướng và góc nghiêng của thiết bị, bao gồm các góc xoay (9-roll), góc nghiêng (0-pitch) và góc đảo (w-yaw). Chất lượng dữ liệu thu được từ cảm biến gia tốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đải động và độ phân giải của cảm biến. Dải động là khoảng gia tốc mà cảm biến có thể phát hiện, ảnh hưởng đến khả năng theo dõi các chuyên động khác nhau.
Độ phân giải phan ánh độ nhạy của cảm biến đối với những thay đổi nhỏ về gia tốc, đóng vai trò quan trọng trong việc nhận biết chỉ tiết nhỏ trong chuyền động. Tần số lay mau cũng là một yếu tố quan trọng; tần số cao cung cấp thông tin chỉ tiết hơn nhưng tiêu thụ nhiều năng lượng hơn. Đối với các hoạt động đơn giản như đi bộ, đứng và ngồi, 12 tần số lay mẫu 20Hz thường là đủ. Tuy nhiên, để ghi lại chi tiết các chuyên động nhanh và thay đôi đột ngột, tần số lấy mẫu cần đạt từ 100Hz trở lên.3 minh họa một mẫu dữ liệu điên hình được thu thập bang cảm biến gia tốc ba trục trong SP.
Mẫu dữ liệu ngã thu bằng cảm biến gia tốc của SP 1. Một số mô hình phân loại thông dụng trong HAR Trong bài toán HAR, việc lựa chọn thuật toán và phương pháp giải quyết đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của hệ thống. Theo nghiên cứu của Ferrari và cộng sự [7].