Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển hoạt động thu hồi nợ ngoại bảng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng phát triển hoạt động thu hồi nợ ngoại bảng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động thu hồi nợ ngoại bảng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
CHƯƠNG1 : TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN HOAT DONG THU HOI NO NGOẠI BANG CUANGAN HANG THUONG MAI 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài Tại nước ngoài, hiện tại chưa có nhiều bai viết liên quan đến đề tài luận văn. Tuy nhiên, đã có nhiều bai viết, công trình nghiên cứu viết về nợ xấu, có thé khái quát một số nghiên cứu như sau: 1.
Những nghiên cứu liên quan đến nợ xấu và thu hồi nợ xấu P. Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Điều đó cho thấy nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nao, kế cả các ngân hàng hang đầu trên thé giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các ngân hàng có năng lực quản tri nợ xấu là khả năng khống chế nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ xây dựng một mô hình quản lý hiệu quả, phù hợp với môi trường hoạt động để hạn chế được những rủi ro nợ xâu mang tính chủ quan, xuất phát từ yêu tố con người và những rủi ro khác có thê kiểm soát được.
Về khái niệm quản lý nợ xấu, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2005) cho rằng: “Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhăm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững: trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM” Van dé nợ xấu ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm trong vai thập kỷ gần đây. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng hậu quả trực tiếp của tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng là ngân hàng phá sản. Rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân phá sản của ngân hàng chỉ ra rằng chất lượng tài sản là một yếu tố dự đoán vỡ nợ rất quan trọng về mặt thống kê (Dermirgue- Kunt (1989), Barr và Siems (1994)) và các tô chức ngân hàng trước khi phá sản luôn có mức nợ xấu rất cao. Nợ xấu còn liên quan tới tính hiệu quả của khu vực ngân hàng.
Nhiều nhà kinh tế đã nhận thấy rằng các ngân hàng phá sản có xu hướng nằm xa so với biên hiệu quả nhất (Berger và Humphrey (1992); Barr và Siems (1994); DeYoung và Whalen (1994); Wheelock va Wilson (1994)) do những ngân hàng này không tôi ưu hóa các quyết định về danh mục dau tu của minh bằng cách cho vay ít hơn so với khối lượng được yêu cầu. Hơn thế, có nhiều bằng chứng rằng giữa các ngân hàng không phá sản, tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa nợ xấu và hiệu quả hoạt động (Kwan và Eisenbeis (1994); Hughes và Moon (1995); Resti (1995)). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nợ xấu càng tăng thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng cảng giảm. Ngoài ra, trên thế giới có khá nhiều các nghiên cứu luận bàn về nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng.
Đối với các nguyên nhân gây ra nợ xấu và sự ảnh hưởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, phải kể đến nghiên cứu của Keeton, William va Morris (1987). Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979-1985 đồng thời sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm thước đo chính cho việc do lường rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này. Mô hình kiểm định đã chỉ ra rằng các điều kiện kinh tế riêng biệt địa phương cùng với sự yếu kém trong hoạt động quan lý ngân hàng là các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các NHTM san sang cho vay những món mạo hiểm thường có rủi ro vỡ nợ cao hơn so với các ngân hàng khác.
Agel (2001) chi ra rằng việc cấp các khoản tín dụng bao gồm một vài bước đó là: Đảm bảo độ an toàn của các tài liệu pháp lý và đảm bảo các điều kiện trong hợp đồng với khác hàng, yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ thông tin, các biện pháp buộc khách hàng phải trả đúng hạn và cung cấp các khoản bảo đảm và xác nhận. Đánh giá cao yếu tố cam kết trả nợ vốn vay của khách hàng. Trong các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, rủi ro từ phía khách hàng là nguyên nhân chủ yếu. Trường hợp là khách hàng cá nhân: thiếu năng lực tài chính, năng lực pháp lý, sử dụng vốn sai mục đích và đặc biệt là ý muốn chủ quan của người đi vay cô tình không trả nợ.
Hoặc trường hợp khách hàng là doanh nghiệp: Năng lực chuyên môn và uy tín lãnh đạo của doanh nghiệp bị giảm thấp, thiếu quan tâm đến vấn đề điều hành sản xuất kinh doanh, hay trong quá trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp trong nước không có đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Tất cả đều dẫn đến khả năng phát sinh và mat kiểm soát nợ xấu của ngân hàng. Nghiên cứu của Thaher và Alamrat (2006) chỉ ra rằng trước khi cấp các khoản tín dụng các ngân hàng cần phân tích tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả của tín dụng. Nhằm đạt được mục đích tăng trưởng nóng, các ngân hàng san sang nới lỏng các quy định về hồ sơ cho vay, áp dụng quy trình tín dụng lỏng lẻo, không phân chia tỷ trọng cho vay theo từng ngành, theo thời hạn hoặc theo đối tượng khách hàng.
Một ngân hàng có tốc độ phát triển càng lớn thì ngày càng phải hoàn thiện hệ thống dé đảm bảo an toàn, hiệu quả tránh những rủi ro luôn thường trực. Một số nghiên cứu tiếp theo sau nghiên cứu của Keeton, William và Morris (1987) cũng lý giải tương tự về các yếu tố gây ra nợ xấu đối với các khoản cho vay tại Mỹ. Ví dụ nghiên cứu của Sinkey, Joseph. F và Greenwalt (1991) thực hiện trên các NHTM lớn ở Mỹ lập luận rằng cả hai yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng đều là tác nhân gây ra sự đồ vỡ tín dụng.
Tác giả tìm thấy một mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ nợ xấu trong các khoản cho vay với các yếu tổ chủ quan của ngân hàng như cho vay với lãi suất cao, hay cho vay nhiều quá mức. Tương tự như các nghiên cứu trước đó, Sinkey, Joseph. F và Greenwalt (1991)ciing cho rằng các điều kiện kinh tế vi mô trong khu vực cũng giải thích cho sự phát sinh các khoản nợ xấu ngân hang. Các nhân tố vĩ mô này bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát hay tỷ giá hối đoái hàng năm.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản dựa trên dữ liệu của các NHTM lớn tại Hoa Kỳ giai đoạn 1984-1987. Tiếp tục phát triển nghiên cứu trước đó của mình, Keeton (1999) sử dụng dữ liệu các năm 1982 -1996 và mô hình véc tơ tự hồi quy, dé phân tích tác động của tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy trình tín dụng. với tình trạng quyt nợ của khách hàng ở Mỹ. Nghiên cứu cho chúng ta bằng chứng về mối quan hệ chặt chẽ thuận chiều giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng với khả năng suy yếu của các tài sản cho vay.
Cụ thé, Keeton (1999)cho thay, tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng kết hợp với các tiêu chuẩn tín dụng được hạ thấp đã gây ra thiệt hại nặng nề khi cho vay ở một số bang trên nước Mỹ. Trong nghiên cứu nay, nợ xấu được định nghĩa là các khoản cho vay quá hạn quá 90 ngày hoặc các khoản vay không trả lãi. Tarawneh (2002), trong nghiên cứu của mình nhằm tìm kiếm giải pháp để giải quyết các vẫn đề phải đối mặt với việc cấp tín dụng ngân hàng, nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải chú trọng đến quan ly dé cung cấp trực tiếp và hướng dẫn cho những khách hàng đầu tư tiền của họ, công bố những nhận thức của ngân hang trong toàn bộ các tổ chức, nguồn lực con người phát triển hoạt động trong các ngân hàng thương mại, cần xem xét các chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại để phù hợp với thực tế tình hình kinh tế. Con người là yếu tố quyết định đến thành công hoặc thất bại của ngân hàng.
Yếu tố con người thể hiện qua số lượng, trình độ, kinh nghiệm, cơ cầu nhân sự, phẩm chat, năng lực quan lý và tác nghiệp. Một bộ máy được phân cấp hợp ly sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường chất lượng 1. Các nghiên cứu về nợ ngoại bảng Nachane (2002), hoạt động ngoại bảng (OffBalance Sheet — OBS) dung để chỉ các hoạt động liên quan đến các dạng cam kết hay hợp đồng tạo ra nguồn thu nhập cho ngân hàng nhưng không được ghi nhận như Tài sản hay Nợ theo thủ tục kế toán thông thường. Nguyên nhân phát triển các hoạt động ngoại bảng là do các hoạt động ngoại bảng sẽ tăng thêm thu nhập dưới hình thức hoa hồng hay thu phí dé bù đắp cho sự giảm thấp thu nhập các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng.
Ngoài ra, khi thực hiện các hoạt động ngoại bảng các NHTM còn có thé tránh được các khoản chi phí về thuế và chi phí về dự trữ bắt buộc, chi phí cho bảo hiểm tiền gửi và một số các khoản chi phí khác không phải áp dụng cho các hoạt động ngoại bảng. Những năm gần đây, tốc độ phát triển của các hoạt động ngoại bảng gia tăng nhiều hơn so với các hoạt động nội bảng truyền thống. Nhiều hoạt động ngoại bảng làm gia tăng thêm rủi ro tiềm an cho ngân hàng.