Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TÍN THAC 1. Lịch sử hình thành Chế định tín thác có nguồn gốc từ pháp luật nước Anh thời Trung cô, vào khoảng thế kỷ 13. Đề hiểu rõ nguồn gốc của tín thác, chúng ta có thê tìm hiểu về sự ra đời của Luật công bình (Equity). Luật công bình được coi là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử nền pháp lý Anh Quốc và tín thác được xem như là phát kién quan trọng nhất của Luật công bình.
Sau khi chính phục thành công nước Anh và lên ngôi vua vào năm 1066, vua William I đã bắt đầu tiến hành hoạt động cải cách tư pháp nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất cho nước Anh. Hoạt động này có nhiều bước phát triển nhất dưới thời Henri đệ nhị (1154-1189). Cụ thể, Henry đệ nhị đã cử các thâm phán từ Toà án Hoàng gia đi giải quyết tranh chấp ở các địa phương trên toàn quốc. Ban đầu, các thâm phán giải quyết tranh chấp theo một cách thức đặc biệt, phụ thuộc vào cách họ hiểu ra sao và nhận thức như thế nào về tập quán địa phương có liên quan đến vụ việc.
Sau mỗi vụ xét xử như vậy, các thấm phán Hoang gia lại quay trở về và thường thảo luận về những vụ án mà họ đã xử, về tập quán pháp mà họ đã áp dụng và về những phán quyết mà họ đã ra. Các phán quyết đó đã được ghi chép và sắp xếp một cách có hệ thống. Theo thời gian, một nguyên tắc có tên “stare decisis” hay còn được biết đến như “rule ofprecedent” đã phát triển, theo đó thâm phán bị ràng buộc bởi những phản quyết có liên quan của các thâm phản khác trong quá khứ, bởi cách giải thích pháp luật của các thâm phán tiền bối. Kết quả là khi xét xử những vụ việc tương tự ở thời điểm hiện tại, người thẩm phán có nghĩa vụ áp dụng cùng những nguyên tắc đã được các thấm phản tiền bối áp dụng.
Nói cách khác, nếu hai vụ việc có tình tiết tương tự thi phản quyết mà toà án ra dé giải quyết hai vụ việc đó sẽ phải có kết cục tương tự. Trên cơ sở áp dụng nguyên tắc tiền lệ pháp này, các phán quyết của toà án đã được duy trì và ngày càng trở nên cứng nhắc đồng thời các tập quán địa phương đã từng bước bị thay thế bằng tiền lệ pháp áp dụng thong nhất trên toàn quốc. Điều này đánh dau sự ra đời của hệ thống common law (thông luật) với đặc trưng là nguyên tắc tiền lệ pháp!. 1 Theo Dai học luật Hà Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nxb CAND, 2019, trang 212.
6 Sau một thời gian dai ton tại thi common law dần bộc lộ nhiều hạn chế như sự cứng nhắc, sự phức tạp trong thủ tục tố tụng do hệ thống trát (writ system) từ đó gây ra nhiều bất công trong xét xử. Nhiều người bị thua kiện do sự bất cập của common law ở Tòa án hoàng gia đã làm đơn thỉnh cầu (petition) lên nhà vua, mong được nhà vua xét xử lại. Do có nhiều công việc cần giải quyết nên nhà vua đã ủy quyền cho đại pháp quan (Lord chancellor) thay mình xét xử các khiếu kiện của người dân. Khi xét xử, Đại pháp quan không áp dụng các án lệ của hệ thống common law mà xét xử theo lương tâm và lẽ công băng ( tiếng anh là Equity).
Dan dan, số vụ việc tăng lên khiến cho văn phòng của đại pháp quan phát triển thành một tòa án độc lập, ton tại song song với Tòa án hoàng gia, được gọi là tòa đại pháp quan (Court of chancery) hay Tòa công bình (Equity court). Các phán quyết của Tòa này sau đó cũng được tập hợp lại và áp dụng “rule of precedents” như common law và hình thành nên hệ thông luật công bình (Equity). Tín thác, hay ủy thác quản lý tài sản ra đời xuất phát từ yêu cầu của các hiệp sĩ khi tham gia các cuộc thập tự chinh. Trước khi tham chiến, các hiệp sĩ đã chuyên quyền sở hữu đất đai cho người mà họ tin tưởng, để người này quản lý đất đai của mình, duy trì các nghĩa vụ đối với hoàng gia (như nộp các loại tô, thuê) và chu cấp, bảo vệ cho gia đình của họ, từ nguồn lợi từ đất đai của mình với lòng tin rằng người này sẽ trả lại đất cho mình khi mình trở về hoặc dé lại cho con trai lúc nó trưởng thành nếu bản thân tử trận.
Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, người mà các hiệp sĩ tin tưởng thường từ chối trả lại tài sản này cho họ sau khi trở về và từ đó tranh chấp xảy ra. Các hiệp sĩ khiếu nại lên tòa án hoàng gia nhưng thường bị xử thua kiện do tài sản đã được chuyền giao hoàn toàn trên giấy tờ. Sau đó, các hiệp si đã tìm đến tòa Đại pháp quan dé được giúp đỡ. Bằng lương tâm và lẽ công bằng, Tòa Đại pháp quan đã xử cho các hiệp sĩ thăng kiện và được lấy lai dat đai.
Cu thé, các phán quyết của Tòa đã công nhận rằng đối với cùng một tài sản, tồn tại sự phân chia thành hai loại chủ sở hữu: chủ sở hữu về mặt luật pháp, trên giấy tờ ( có quyền nắm giữ tài sản và quản lý tài sản cho sinh lợi) và chủ sở hữu theo lẽ công băng (có quyền hưởng lợi từ tài sản) và quy định cho những người có quyền đối với các tài sản (đặc biệt là đối với bất động sản) một số nghĩa vụ hạn chế quyền quản lý và định đoạt đối với tài sản của mình và công nhận người bị hạn chế quyên như vậy được hưởng quyên “công băng” đôi với tài sản (hưởng lợi từ tài sản). Nhờ sự ra đời của 2 Theo Dai học luật Hà Nội, giáo trình Luật so sánh, Nxb CAND, 2019, trang 223. 7 nội dung pháp luật này, trước khi tham gia vào các cuộc chiến tranh, các hiệp sĩ có thê chuyển quyền đối với tài sản của họ cho người khác, để người này quản lý tài sản vì mục đích hưởng lợi của hiệp sĩ và gia đình của anh ta cho đến khi anh ta trở về hoặc sẽ chuyên cho người con trai thừa kế nếu hiệp sĩ tử trận. Đây chính là sự khởi đầu của luật tín thác (trust law).
Chế định tín thác (hay còn gọi là ủy thác) sau đó tiếp tục được phát triển, hoàn thiện và áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác trong xã hội cho đến tận ngày nay, không chỉ ở nước Anh mà còn ở nhiều quốc gia khác trên thé giới°, không những các nước theo hệ thông common law như Mỹ, Australia hay New Zealand mà cả các nước có hệ thống pháp luật mang đặc trưng của civil law như Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Nguồn gốc này cũng giải thích cho thuật ngữ “tín thác” (tiếng anh là trust). Trust có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm-là yếu tố quan trọng nhất trong mối quan hệ tín thác- Chúng ta tin tưởng vào uy tín, sự tín nhiệm (tín) của một người dé rồi giao phó (thác) cho họ việc nắm giữ, quản lý và vận hành tài sản của chúng ta. Ngoài tên gọi tín thác ra, một thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng trong một số bài báo, bài nghiên cứu ở Việt Nam đó là “ủy thác quản lý tài sản” để chỉ chế định pháp lý này.
Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, cách gọi “ủy thác quản lý tài sản” chưa ngắn gọn và không thê hiện đầy đủ bản chất của quan hệ pháp lý này, đó là sự tín nhiệm, uy tín tạo cơ sở cho việc ủy thác tai sản. Do đó, trong phạm vi bai nghiên cứu này, nhóm sé sử dụng tên gọi “tín thác” và mong muốn trong các văn bản tài liệu pháp lý về vấn đề này trong tương lai, thuật ngữ “tín thác” sẽ được sử dụng một cách phổ biến và thống nhất. Định nghĩa tín thác Như đã đề cập ở phần trên, tín thác là một chế định pháp lý có nguồn gốc lâu đời (từ tan thé kỷ XII) và được xem là một trong những thành tựu quan trọng nhất của nền khoa học pháp lý Anh Quốc. Môn học “Trust and Equity” (Tín thác và công bình) cũng được xem là một trong những môn học khó và quan trọng nhất đối với sinh viên Luật các nước Phương Tây.
Do đó, đã có rất nhiều tài liệu pháp lý đề cập cũng như phân tích sâu nội dung này, từ những công trình nghiên cứu khoa học đồ sộ cho đến các bài luận văn, luận án và cả các bai viet ngăn trên Internet với tác giả từ các nhà nghiên cứu pháp 3 Lê Vũ Nam, Lê Bích Thủy, Quan hệ tín thác trong pháp luật một sốquốc gia và gợi ý cho Việt Nam, tap chí Tòa án nhân dân (số 24/2020) (trang 42). 8 luật danh tiếng, các thầm phán, luật sư cho đến các sinh viên luật hay nhân viên của các công ty kinh doanh tín thác. Mỗi tài liệu đều đưa ra định nghĩa về tín thác của riêng mình và các định nghĩa ở các tác phẩm khác nhau thì không hoàn toàn giống nhau. Do đó, ở phần này, nhóm sẽ nghiên cứu các định nghĩa về tín thác ở một số tác pham tiêu biểu, xem xét sự tương đồng và phân tích sự khác biệt giữa chúng đề từ đó có thể rút ra một định nghĩa ngắn gọn, toàn diện và dễ hiểu nhất.
Tác giả Ford và Lee trong cuốn “Những nguyên lý về pháp luật tín thác” (Principle on uy 9 the Law of the Trust) định nghĩa một tín thác là: “một nghĩa vụ có thể thi hành theo luật công bình mà nó thuộc về một người (người nhận tín thác) với tư cách chủ sở hữu của một số tài sản cụ thé (tài sản tín thác) dé giải quyết tài sản đó vì lợi ich của một người khác (người hưởng lợi) hoặc dé thực hiện một vài mục đích cụ thé nào đó ”°. Tác gia Martin trong tác phẩm “Luật công bình hiện đại” (Modern Equity) thì cho rằng: “Tin thác là một moi quan hệ được công nhận bởi luật công bình, xuất hiện khi tài sản được trao cho một người hoặc nhiễu người gọi là người nhận tín thác, mà những người nhận tín thác nay có nghĩa vụ giữ vì lợi ích cua những người khác, được gọi là cestuis que trust hay người hưởng loi’?