Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình" do sinh viên Nguyễn Thị Hà (Mã sinh viên: 450244, chuyên ngành Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội) thực hiện năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và môi trường quan trọng hình thành nhân cách con người. Quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) giữ vai trò đặc biệt đối với sự ổn định và phát triển của xã hội cũng như Nhà nước. Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ tại Việt Nam đã được ban hành qua nhiều thời kỳ, gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội và phong tục tập quán.

Tuy nhiên, trong thực tiễn pháp lý, các luật chuyên ngành thường được ban hành và áp dụng trước Bộ luật Dân sự (BLDS). Đồng thời, hệ thống lý luận vẫn tồn tại những quan điểm trái chiều về bản chất của quan hệ HN&GĐ so với các quan hệ giao lưu dân sự thông thường, cũng như vị trí của quan hệ này trong tổng thể hệ thống pháp luật tư. Do đó, việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết nhằm định hướng hoàn thiện pháp luật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định rõ mục đích và các nhiệm vụ cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về quan hệ HN&GĐ (khái niệm, đặc trưng cơ bản); tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của các quy phạm điều chỉnh quan hệ HN&GĐ; làm rõ bản chất và quan điểm điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
    1. Làm rõ những vấn đề lý luận về HN&GĐ từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là từ góc độ luật chuyên ngành HN&GĐ.
    2. Phân tích, so sánh với các quy định điều chỉnh quan hệ HN&GĐ trong các văn bản pháp luật trước đây để làm rõ quan điểm điều chỉnh quan hệ HN&GĐ hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn pháp lý của việc điều chỉnh quan hệ HN&GĐ tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ từ góc độ khái niệm, đặc trưng, các quan điểm lập pháp qua từng thời kỳ lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và quan điểm điều chỉnh quan hệ HN&GĐ trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành:

  • Phương pháp luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Tiếp cận sự phát triển của quan hệ gia đình gắn liền với các hình thái kinh tế - xã hội, đặt trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  • Lý thuyết hình thái gia đình (C. Mác và Ph. Ăng-ghen): Tiếp cận 4 hình thái gia đình trong lịch sử loài người: gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình cặp đôi và gia đình một vợ một chồng.
  • Góc độ xã hội học và luật học: Tiếp cận khái niệm gia đình dựa trên 3 mối liên kết nền tảng (hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng) và 3 chức năng xã hội cơ bản (sinh đẻ/tái sản xuất con người, giáo dục, kinh tế).
Hệ thống lý thuyết tiếp cận:

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống:

  • Phương pháp lịch sử: Làm rõ tính kế thừa và sự phát triển của các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ qua từng giai đoạn lịch sử Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khái niệm, đặc trưng cấu thành quan hệ pháp luật HN&GĐ (chủ thể, khách thể, nội dung, sự kiện pháp lý) dưới góc độ lý luận lập pháp.
  • Phương pháp so sánh: So sánh pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc, sau năm 1945, giai đoạn đổi mới đến nay) và so sánh quan điểm lập pháp của các nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp tổng hợp: Rút ra các luận điểm khoa học làm tiền đề đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp.

Nguồn dữ liệu và tư liệu pháp lý

Khóa luận sử dụng nguồn dữ liệu thành văn gồm:

  • Các đạo luật lịch sử: Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1936; Sắc lệnh 97/1950, Sắc lệnh 159/1950; Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000.
  • Văn bản pháp luật hiện hành: Hiến pháp năm 2013, Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em 2016, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Hộ tịch 2014, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989.
  • Giáo trình và công trình chuyên khảo của các chuyên gia đầu ngành: PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ, TS. Đoàn Đức Lương, Báo cáo rà soát của Bộ Tư pháp, tài liệu nghiên cứu của UNIFEM về Công ước CEDAW.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái niệm và các đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích các yếu tố đặc thù cấu thành quan hệ pháp luật HN&GĐ:

1. Khái niệm và đặc điểm của hôn nhân, gia đình

  • Về hôn nhân: Khóa luận xác định hôn nhân là sự liên kết giữa vợ và chồng trên cơ sở kết hôn, nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Văn bản phân tích các hình thái hôn nhân: nội hôn tộc người, hôn nhân một vợ một chồng, hôn nhân hỗn hợp (mixed marriage), hôn nhân có yếu tố nước ngoài (Khoản 25 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014), hôn nhân xuyên quốc gia (cross-national marriage) và hôn nhân xuyên biên giới (cross-border marriage / transnational marriage theo nghiên cứu của Lucy Williams).
  • Về gia đình và các chức năng xã hội: Gia đình là sự liên kết của nhiều người do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Gia đình thực hiện 3 chức năng cơ bản:
    1. Chức năng sinh đẻ (tái sản xuất con người): Mang tính quyết định sự tồn vong của nòi giống, dân tộc và xã hội.
    2. Chức năng giáo dục: Môi trường đầu tiên hình thành nhân cách của cá nhân, kết hợp giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.
    3. Chức năng kinh tế: Gia đình là một đơn vị kinh tế cơ bản, độc lập, tạo dựng của cải vật chất nuôi sống các thành viên và đóng góp cho xã hội.

2. Các đặc trưng cấu thành quan hệ pháp luật HN&GĐ

  • Về chủ thể: Chủ thể của quan hệ HN&GĐ chỉ có thể là cá nhân (thể nhân), không bao gồm pháp nhân hay tổ quốc gia/tổ chức như trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi HN&GĐ có tính chất đặc thù (ví dụ: điều kiện kết hôn nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi theo Điều 9; quyền bày tỏ nguyện vọng về người trực tiếp nuôi dưỡng của trẻ em từ đủ 07 tuổi theo Khoản 2 Điều 81).
  • Về nội dung (Quyền và nghĩa vụ): Bao gồm quyền nhân thân (hoàn toàn không có nội dung kinh tế, mang tính tình cảm, đạo đức như nghĩa vụ chung thủy, yêu thương tại Điều 18) và quyền tài sản (gắn liền với nhân thân, không thể chuyển nhượng, không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác như nghĩa vụ cấp dưỡng tại Điều 107). Quyền trong HN&GĐ có tính chất tương đối, không mang tính chất đền bù và ngang giá.
  • Về khách thể: Là lợi ích nhân thân, hành vi ứng xử, chăm sóc, nuôi dưỡng và các loại tài sản chung/riêng. Tác giả nhấn mạnh: Con cái là chủ thể của quan hệ pháp luật HN&GĐ, không phải là khách thể (bác bỏ nhận thức sai lầm phổ biến khi giải quyết tranh chấp quyền nuôi con).
  • Về sự kiện pháp lý: Sự kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ HN&GĐ thường đòi hỏi cấu thành phức hợp gồm 2 đến 3 sự kiện (ví dụ: tự nguyện kết hôn + đăng ký vào sổ hộ tịch + cấp giấy chứng nhận). Quan hệ HN&GĐ có sự kiện pháp lý đặc thù là sự kiện pháp lý phục hồi quan hệ pháp luật (Khoản 1 Điều 67 Luật HN&GĐ 2014: Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết thì quan hệ hôn nhân được khôi phục nếu bên kia chưa kết hôn với người khác).

Chương 2: Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích tiến trình lập pháp qua các thời kỳ và làm rõ thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

1. Các quan điểm điều chỉnh quan hệ HN&GĐ

  • Quan điểm nước ngoài: Các nước tư bản chủ nghĩa (như Pháp, Đức, Nhật Bản) có xu hướng coi hôn nhân như một khế ước/hợp đồng dân sự do Dân luật điều chỉnh. Ngược lại, pháp luật xã hội chủ nghĩa coi hôn nhân là sự liên kết tự nguyện dựa trên tình yêu chân chính, xây dựng Luật HN&GĐ thành một ngành luật độc lập song song với Bộ luật Dân sự.
  • Tiến trình lập pháp tại Việt Nam qua các giai đoạn:
    • Trước năm 1945: Tồn tại chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 dành 325/1455 điều cho chế định HN&GĐ, Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1936 phỏng theo Dân luật Pháp 1804 nhưng duy trì nhiều tập tục phong kiến bất bình đẳng.
    • Giai đoạn 1945 - 1954: Sắc lệnh 17/10/1945 (nam nữ từ đủ 18 tuổi có quyền bầu cử, ứng cử), Điều 9 Hiến pháp 1946 ghi nhận nam nữ bình đẳng. Sắc lệnh số 97 (22/5/1950) và Sắc lệnh số 159 (17/11/1950) sửa đổi các chế định dân luật cũ, bảo vệ quyền tự do ly hôn và bình đẳng giới.
    • Giai đoạn 1954 - 1975: Miền Bắc ban hành Hiến pháp 1959 (Điều 24) và Luật HN&GĐ năm 1959 (gồm 6 chương, 35 điều, xây dựng trên 4 nguyên tắc cơ bản). Miền Nam áp dụng Luật gia đình 01-59, Sắc luật 15/64, BLDS 1972 vẫn mang tính gia trưởng, cấm ly hôn.
    • Giai đoạn 1975 - 2000: Thống nhất pháp luật sau ngày 30/4/1975 qua Nghị quyết 76/CP (1977); Hiến pháp 1980 (Điều 38, 47, 63, 64); Luật HN&GĐ năm 1986 (10 chương, 57 điều - sau khảo sát thực tế tại 13 tỉnh, thành phố); Hiến pháp 1992 và Luật HN&GĐ năm 2000 (13 chương, 110 điều).
    • Giai đoạn hiện nay: Hiến pháp năm 2013 (Điều 36) và Luật HN&GĐ năm 2014 (9 chương, 133 điều) ghi nhận nhiều quy định mới: chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (Điều 47-50), mở rộng quyền yêu cầu ly hôn cho cha mẹ/người thân thích (Điều 51), mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 94-99), điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài (Điều 121-130).
Tiến trình phát triển của các đạo luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam:
 (6 chương, 35 điều)    (10 chương, 57 điều)   (13 chương, 110 điều)   (9 chương, 133 điều)

2. Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ hiện hành

Văn bản phân tích vị trí và cơ chế tác động của các nguồn luật trong hệ thống pháp luật thực định:

Văn bản quy phạm pháp luật Quy mô / Điều khoản trọng tâm Vai trò và nội dung điều chỉnh chủ yếu
Hiến pháp năm 2013 Điều 16, 26, 36, 60; Chương II, Chương III Đạo luật cơ bản có hiệu lực tối cao; xác lập nguyên tắc bình đẳng giới, tự do kết hôn/ly hôn, bảo hộ của Nhà nước đối với gia đình, người mẹ và trẻ em.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 9 chương, 133 điều Đạo luật chuyên ngành điều chỉnh toàn diện: kết hôn, quyền/nghĩa vụ vợ chồng, chấm dứt hôn nhân, quan hệ cha mẹ - con, cấp dưỡng, yếu tố nước ngoài.
Bộ luật Dân sự năm 2015 6 phần, 689 điều (Điều 4, 5, 6, 29, 39, 43, 212, 213) Đóng vai trò là luật chung (luật gốc). Quy định quyền nhân thân trong HN&GĐ (Điều 39); áp dụng khi Luật chuyên ngành không có quy định (Khoản 1 Điều 4 BLDS, Điều 6 Luật HN&GĐ).
Các luật chuyên ngành phối hợp Luật Trẻ em 2016, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Hộ tịch 2014, Luật Bảo vệ SKND 1989 Điều chỉnh các khía cạnh bổ trợ về thủ tục đăng ký hộ tịch, quyền trẻ em, chống phân biệt đối xử về giới và chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Xác lập hệ thống lý luận đặc thù về quan hệ HN&GĐ: Khóa luận chứng minh rõ quan hệ HN&GĐ không đồng nhất với quan hệ hợp đồng dân sự thông thường. Quyền và nghĩa vụ HN&GĐ gắn chặt với yếu tố nhân thân, mang tính bền vững, phi thương mại và không áp dụng nguyên tắc bồi hoàn ngang giá.
  2. Hệ thống hóa toàn diện lịch sử lập pháp: Tác giả phân tích xuyên suốt sự phát triển của pháp luật HN&GĐ qua 5 thời kỳ lịch sử tại Việt Nam, chỉ ra quá trình chuyển biến từ công cụ duy trì trật tự gia trưởng phong kiến sang hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người, bình đẳng giới và gia đình tiến bộ.
  3. Làm rõ cơ chế vận hành giữa Luật chung và Luật chuyên ngành: Luận giải nguyên tắc áp dụng pháp luật theo BLDS năm 2015 và Luật HN&GĐ năm 2014: Luật HN&GĐ là luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp; BLDS 2015 giữ vai trò luật chung bổ trợ, cung cấp các nguyên tắc nền tảng khi luật chuyên ngành chưa quy định.

Đóng góp khoa học và giải pháp của đề tài

  • Về mặt lý luận: Hoàn thiện định nghĩa khoa học về hôn nhân, gia đình; phân loại chính xác các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật HN&GĐ, khẳng định tư cách chủ thể độc lập của con cái và làm rõ cơ chế phục hồi quan hệ pháp luật qua sự kiện pháp lý đặc thù.
  • Về mặt thực tiễn: Khái quát bức tranh tổng thể các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ hiện nay, chỉ ra những điểm giao thoa và mâu thuẫn tiềm ẩn giữa BLDS và luật chuyên ngành, tạo cơ sở khoa học để tiếp tục định hướng sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật gia đình trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do giới hạn trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp bậc đại học, công trình chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu, tổng kết các vấn đề lý luận mang tính tổng quát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; chưa đi sâu phân tích số liệu thống kê xét xử thực tế của ngành Tòa án cũng như các án lệ cụ thể trong từng loại tranh chấp tài sản phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn thi hành các chế định mới của Luật HN&GĐ năm 2014 (như chế độ tài sản thỏa thuận tiền hôn nhân, cơ chế pháp lý mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài); đánh giá sâu hơn sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế (như Công ước CEDAW, Công ước về Quyền trẻ em CRC).

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là người học các học phần Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam.
  • Người làm nghiên cứu khoa học pháp lý: Cung cấp nguồn tổng hợp tư liệu lịch sử lập pháp từ thời kỳ Pháp thuộc đến nay và hệ thống luận điểm phân định bản chất giữa quan hệ HN&GĐ với quan hệ dân sự thông thường.
  • Cán bộ tư pháp, hộ tịch và hành nghề luật: Tham khảo khung phân tích về mối quan hệ áp dụng giữa Điều 39 BLDS 2015 và Luật HN&GĐ 2014 khi xử lý các vụ việc thực tế có sự giao thoa pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có những điểm mới nổi bật nào so với Luật năm 2000?

Theo phân tích tại Chương 2 của khóa luận, Luật HN&GĐ năm 2014 (gồm 9 chương, 133 điều) ghi nhận các điểm mới quan trọng:

  • Lần đầu tiên ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (Điều 47 đến Điều 50).
  • Mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn: cho phép cha, mẹ, người thân thích của vợ/chồng được quyền yêu cầu ly hôn trong một số trường hợp luật định (Điều 51).
  • Lần đầu tiên chính thức ghi nhận chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 94 đến Điều 99).
  • Bổ sung, điều chỉnh chi tiết các quy định về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài (Điều 121 đến Điều 130).

2. Mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được xác định như thế nào?

BLDS năm 2015 được xác định là "luật chung" (luật gốc) điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong khi Luật HN&GĐ năm 2014 là "luật chuyên ngành". Căn cứ Khoản 1 Điều 4 BLDS 2015 và Điều 6 Luật HN&GĐ 2014: Luật HN&GĐ được ưu tiên áp dụng để điều chỉnh các quan hệ nhân thân và tài sản trong lĩnh vực gia đình; trường hợp Luật HN&GĐ không có quy định thì sẽ áp dụng các nguyên tắc và quy phạm tương ứng của BLDS 2015.

3. Tại sao quan hệ hôn nhân và gia đình không được coi là một hợp đồng dân sự theo quan điểm pháp luật Việt Nam?

Khóa luận phân tích rằng trong học thuyết pháp lý xã hội chủ nghĩa, hôn nhân không phải là khế ước hay hợp đồng kinh tế thuần túy. Hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính, sự gắn kết đạo đức, bình đẳng và tự nguyện giữa nam và nữ nhằm xây dựng gia đình bền vững. Các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ HN&GĐ gắn chặt với yếu tố nhân thân, không thể chuyển giao, không mang tính chất bồi hoàn ngang giá và không thể định giá thành tiền.

4. Trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, con cái được xác định là chủ thể hay khách thể?

Căn cứ vào lý luận cấu thành quan hệ pháp luật ở Chương 1, con cái là chủ thể của quan hệ pháp luật HN&GĐ, hoàn toàn không phải là khách thể. Những tranh chấp giữa cha mẹ về việc nuôi dưỡng hay giáo dục con là việc thực thi quyền và nghĩa vụ của chủ thể cha mẹ đối với chủ thể con cái; khách thể của các quan hệ này là hành vi chăm sóc, giáo dục và lợi ích phát triển của đứa trẻ.

5. Sự kiện pháp lý phục hồi quan hệ hôn nhân được quy định ra sao trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?

Theo Khoản 1 Điều 67 Luật HN&GĐ 2014, khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Đây là sự kiện pháp lý đặc thù có tác dụng phục hồi lại quan hệ pháp luật đã chấm dứt trước đó mà không làm phát sinh một quan hệ pháp luật mới.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất đặc thù của quan hệ HN&GĐ, khái quát lịch sử lập pháp qua các thời kỳ và xác định chuẩn xác cơ chế áp dụng giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu, đào tạo luật học và định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật gia đình trong giai đoạn hiện nay.