Chương I - Mô tả mục tiêu và nguyên tắc; Chương II - Chuẩn bị phân vùng; Chương III - Nội dung của phân vùng; Chương IV - Sử dụng, bảo quản, lưu, quảng cáo dưa liệu và thông tin; Chương V - Các điều khoản khác. Tại điều 12 của Nghị định đã quy định về việc xác định từng vùng/khu vực phải dựa trên: (1) Đánh giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khuôn khổ KT-XH và pháp lý, thể chế. Trên cơ sở đó, trong quy hoạch chiến lược và hành động của thành phó Belo Horizonte, Brazil, cdc nha quan ly da tích hợp các vấn đề môi trường vào trong quy hoạch chung của thành phó. Trong đó, hai kiểu PVMT đã được sử dụng, bao gồm: Các vùng bảo vệ cảnh quan và môi trường nhằm bảo tồn chất lượng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực; và các vùng BVMT nhằm duy trì các khu vực hỗ trợ cho sự cân bằng môi trường của thành phố [32].
Từ năm 2006, các nhà khoa học ở Cục Môi trường Trung Quốc (Qinhua Fang và nnk, 2008) đã tiếp cận phân vùng chức nang sinh thai, ma ban chat la PVCNMT để lập QHMT ở các cấp khác nhau nhằm lồng ghép vấn đề BVMT vào các hoạt động phát triển KT-XH. Trong đó, các tác giả đã coi phân vùng chức năng sinh thái như là bước chìa khóa đẻ thực hiện lập QHMT và thí điểm cho TP. Đồng thời, một phương pháp hiệu quả cho phân vùng chức năng sinh thái cũng được đề xuất [30]. Nghiên cứu đã nêu rõ, phân vùng chức năng sinh thái không chỉ đóng vai trò quan trọng góp phần nâng cao khả năng thích ứng và sự chấp nhận các QHMT mà trong cả công tác QLMT và ra quyết định.
Kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy, các phương pháp phân vùng chức năng sinh thái có thể áp dụng như một nguyên tắc trong quản lý thích ứng, dựa vào nguồn tài nguyên và cộng đồng. Do vậy, nó có thể cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình ra quyết định nhằm hạn chế quan điểm chủ quan của nhà quy hoạch và sự mẫu thuẫn trong sử dụng tài nguyên giữa các bên liên quan. Những vấn đề môi trường cần giải quyết trong tương lại cũng được chỉ ra dựa trên tiếp cận phân vùng chức năng sinh thái Như vậy, trên thế giới PVMT hay phân vùng chức năng sinh thái (bản chất là PVCNMT) được sử dụng như một công cụ phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong một không gian lãnh thổ, hoặc QHMT. Cơ sở để PVMT là tông hợp các yếu tổ tự nhiên và KT-XH tại mỗi vùng 1.
Tại Việt Nam Hiện nay, tại Việt Nam chưa có công trình nào viết rõ về phương pháp luận PVCNMT. Tuy nhiên, thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu, dự án liên quan đến PVMT, PVCNMT phục vụ lập QHMT, QHBVMT đã được thực hiện. Một số nghiên cứu liên quan đến PVCNMT đã được thực hiện, như đề tài: “Nghiên cứu xây dựng QHMT phục vụ phát triển KT-XH vùng đồng bằng sông Hồng” và “Nghiên cứu xây dựng QHMT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cắp Nhà nước “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ BVMT và phòng tránh thiên tai (KC08), “Nghiên cứu vấn đề QHMT vùng lãnh thé, lay Ha Long - Quảng Ninh làm ví dụ”, “Nghiên cứu xây dựng QHBVMT vùng đồng bằng sông Cửu Long”, *QHMT vùng Đông Nam Bộ” [10] Trên cơ sở nghiên cứu môi trường tự nhiên, tiêu chí, tiêu chuân chất lượng môi trường, đánh giá hiện trạng và dự báo xu thế biến động, các cảnh quan sinh thái có nguồn gốc tự nhiên, các yếu tố nồi trội trong phát triển KT-XH để tiến hành đánh giá các biển đổi môi trường, kết quả của đề tài “Nghiên cứu xây dựng QHMT phục vụ phát triển KT-XH vùng đồng bằng sông Hồng” đã phân đồng bằng sông Hồng thành 3 phụ vùng và 10 tiểu vùng [14], bao gồm: -N với các tiêu vùng: Núi có lớp phủ rừng; núi đá; gò đồi. - Đồng bằng, với các tiêu vùng: Đồng ruộng; thủy vực; đô thị và KCN.
- Cửa sông ven biền, với các tiểu vùng: Rừng ngập mặn; đồng ruộn; (có lớp phủ và chưa có lớp phủ thực vậu; đô thị va KCN. Một số địa phương đã tiến hành xây dựng QHBVMT. Đề QHBVMT thì cần thực hiện PVCNMT, ví dụ: - Tinh Hải Dương, trong QHBVMT và định hướng phát triển kinh tế, được phân thành 4 vùng chức năng môi trường: Vùng I - môi trường khu vực công nghiệp với 4 tiểu vùng; Vùng II - môi trường đô thị với 7 tiểu vùng; Vùng III - môi trường nông nghiệp và nông thôn với 5 tiểu vùng; Vùng IV - môi trường lâm nghiệp và khu du lịch với 4 tiểu vùng [10]. ~ Tinh Hà Tây (cũ), trong QHBVMT và định hướng phát triển kinh tế đã tiến hành phân chia lãnh thỏ tỉnh thành 7 vùng chức năng môi trường: (¡) Vùng bảo tồn kết hợp du lịch sinh thái (vùng núi Ba Vì), phân thành 5 tiểu vùng; (ii) Vùng sản xuất ven sông Hồng, phân thành 3 tiểu vùng (tiểu vùng sản xuất, tiểu vùng sản xuất gần các khu dân cư và tiêu vùng nhạy cảm ven sông); (ii) Vùng phát triển ven thành phố Ha Nội, phân thành 4 tiểu vùng; (iv) Vùng sản xuất ven sông Đáy; (v) Vùng đa sử dụng giáp tỉnh Hưng Yên, phân bố cho các hoạt động sản xuất phát triển; (vi) Vùng sản xuất giáp tỉnh Hà Nam, chia thành 2 tiêu ving; (vii) Vùng cao núi đá vôi giáp tỉnh Hòa Bình và khu du tích chùa Hương, chia thành 6 tiêu vùng [10].
- Theo Quyết định số 17/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, lãnh thổ tỉnh Tuyên Quang được phân thành 2 vùng chức năng chính dé bảo vệ. Vùng I là vùng có chức năng BVMT đất, nước, không khí cho Tuyên Quang và vùng Đông Bắc, phòng hộ, ngăn ngừa các sự có môi trường (lũ lụt, lở đất, xói mòn). Đây là vùng có địa hình chia cắt mạnh, độ đốc lớn, đất đai để bị xói mòn, lớp phủ mỏng, điều kiện phát triển giao thông, công nghiệp khó khăn; mật độ dân cư thưa. Vùng II là vùng có thẻ gây ô nhiễm cao do quá trình phát triển KT-XH, vì vậy cần phải có sự quan tâm và giải pháp BVMT trong quá trình phát triển KT-XH.
Ở vùng nảy các hoạt động công nghiệp, nông ngi. giao thông, xây dựng, khai thác, chế biến khoáng sản, dịch vụ, du lịch. diễn ra mạnh. Đây là nơi tập trung dân cư chủ yếu của tỉnh (trên 80% dân số toàn tỉnh) [28].
- Thành phd Chí Minh (2008) và thành phố Hà Nội (2010) đã tiến hành phân loại và phân vùng chất lượng nước các sông, hồ, kênh rạch áp dụng hệ thống. phân loại theo chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) phù hợp với đặc điểm nguồn nước của địa phương hoặc lưu vực. Mục đích của nghiên cứu là phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước và mức độ ô nhiễm nguồn nước, đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch cho mục đích khác nhau như sinh hoạt, nuôi tôm cá, thủy lợi. của vùng nghiên cứu.
Mục tiêu của phân vùng là xác định rõ [12, 13]: +) Vùng nào (đoạn sông nào) đạt yêu cầu về chất lượng nước an toàn cho cấp nước sinh hoạt (lấy nước cho nhà máy nước). +) Vùng nào đạt yêu cầu về chất lượng nước có khả năng nuôi trồng thủy sản an toàn, có hiệu quả kinh tế, +) Vùng nào có khả năng cấp nước thủy lợi an toàn, có chất lượng tốt. +) Vùng nào có khả năng xây dựng cơ sở thẻ thao, du lịch dưới nước đủ tiêu chuân. +) Vùng nào không thê sử dụng các mục đích trên, ân ưu tiên xử lý, kiêm soát ô nhiễm.
Trong quá trình xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vẻ tiêu chuẩn khí thai, nước thải, Việt Nam cũng đã PVMT tiếp nhận trên cơ sở đánh giá khả năng chịu tải của từng vùng đối với các chất ô nhiễm như các vùng đô thị khác nhau, vùng sinh thái nhạy cảm, vùng nông thôn, vùng có ý nghĩa lịch sử văn hóa. Năm 2007, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 65/2007/QĐ- UBND quy định PVMT tiếp nhận nước thải và khí thải công nghiệp trên địa bản. “Theo Quyết định này, môi trường các nguồn nước mặt đề tiếp nhận các nguồn nước thải được phân thành 12 vùng sông, suối và 14 vùng hồ. Những khu vực thuộc vùng này được áp dụng những hệ số khác nhau về lưu lượng nguồn thải, dung tích nguồn tiếp nhận và phương pháp tính nồng độ cho phép các chất ô nhiễm trong khí thải công nghiệp được quy inh [16] Phân vùng quản lý, bảo tồn rạn san hô và các HST liên quan đến vùng biển từ hòn Chảo đến Nam Hải Vân và bán đảo Sơn Trà theo Quyết định số 54/2007/QĐ- UBND của UBND thành phố Đà Nẵng bao gồm 03 vùng chức năng: (¡) Vùng bảo.
vệ nghiêm ngặt (vùng lõi), là vùng bao gồm 36,2 ha rạn san hộ; (ii) Vùng phục hồi sinh thái: (ii) Vùng khai thác hợp lý, bao bọc các vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng phục hồi sinh thái. Đối với mỗi vùng chức năng nói trên, đã quy định rõ các hoạt động bị cắm, cũng như các hoạt động được khuyến khích tại các vùng này [15]. Phân vùng chức năng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam thông qua sự giúp đỡ kỹ thuật của PEMSEA (2004) phục vụ cho 10 Kế hoạch hành động quản lý tông hợp vùng bờ thành phó Đà Nẵng. Theo đó, ving bờ thành phố Đà Nẵng được phân chia thành 11 vùng, gồm: Vùng bảo tồn; ving phục hồi (san hô); vùng nguồn cấp nước (hồ xanh); vùng phục hồi (cỏ biểi vùng sử dụng với cường độ thấp; vùng phát triển du lịch; vùng hoạt động công nghiệp và cảng biển; vùng công nghiệp; vùng đánh bắt cá (ven bờ); vùng đánh bắt cá (xa bờ): vùng sử dụng đa mục tiêu [17].
Việc phân vùng chức năng sử dụng nguồn lợi và các HST của vùng bờ vịnh Hạ Long được Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tiến hành năm 1998.