MỞ ĐẦU Rong biển là một trong những nhóm sinh vật có sự đa dạng sinh học cao và có phân bố rộng tại Việt Nam. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, thành phần loài rong biển Việt Nam có khoảng 827 loài [1] trong đó có nhiều loài có sinh khối lớn và có giá trị kinh tế cao [2, 3]. Chi rong Câu (Gracilaria), thuộc họ rong Câu (Gracilariaceae), bộ rong Câu (Gracilariales), ngành rong Đỏ (Rhodophyta), có khoảng 100 loài [4]. Ở Việt Nam rong Câu đƣợc ghi nhận có 20 loài, trong đó có nhiều loài đƣợc đánh giá là có sinh lƣợng lớn nhƣ loài Gracilaria tenuistipitata C.
Dawson, Hydropuntia eucheumatoides (Harvey) Gurgel & Fredericq và Gracilariopsis heteroclada J. Sự phân loại rong Câu ở Việt Nam cho tới nay chủ yếu dựa vào hình thái học nhƣ các đặc điểm hình thái giải phẫu tản và cơ quan sinh sản, việc phân loại dựa trên đặc điểm hình thái giải phẫu thƣờng gặp nhiều khó khăn đối với các loài có quan hệ gần nhau và có hình thái biến đổi (thƣờng biến) theo điều kiện môi trƣờng nơi chúng phát triển nên việc định loại chỉ mang tính tƣơng đối [7]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, thành phần loài rong Câu có những điều chỉnh đáng kể khi áp dụng phƣơng pháp phân loại hiện đại hơn là phƣơng pháp phân loại sử dụng chỉ số phân tử. Vì lẽ đó, việc ứng dụng chỉ số phân tử để nghiên cứu sâu hơn về thành phần loài và phân bố rong Câu là một chủ đề hết sức cần thiết và phù hợp trong điều kiện khoa học phát triển và góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của Việt Nam hiện nay.
Vùng Tây Nam bộ có tiềm năng nuôi trồng thủy sản lớn, với diện tích mặt nƣớc lớn và nhiều điều kiện thuận lợi cho nhóm rong Câu sinh trƣởng và phát triển. Cho đến nay, không có dữ liệu nghiên cứu chính thức về thành phần loài của rong Câu vùng Tây Nam bộ. Các nghiên cứu đánh giá về thành phần loài rong Câu Tây Nam bộ là hết sức cần thiết làm cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực thủy sản và trong công nghệ thực phẩm. Từ những thực tế đã nêu trên, đề tài “Nghiên cứu phân loại rong Câu vùng Tây Nam bộ bằng chỉ thị phân tử” là thực sự cần thiết, hoàn toàn khả thi Luan van 3 và có tính thực tiễn cao.
Kết quả nghiên cứu hứa hẹn sẽ giúp cho sự hiểu biết về đa dạng sinh học rong Câu vùng Tây Nam bộ theo hƣớng tiếp cận hiện đại; bên cạnh đó kết quả nghiên cứu này cũng sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu phát triển nuôi trồng thƣơng phẩm rong Câu để phục vụ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản tại vùng Tây Nam bộ Việt Nam nói riêng và của Việt Nam nói chung trong tƣơng lai. * Mục tiêu của đề tài: Phân loại các loài rong Câu phân bố ở vùng biển Tây Nam bộ. Để đạt đƣợc mục tiêu trên, đề tài sẽ thực hiện các nội dụng chính sau: + Khảo sát thu mẫu rong câu phân bố vùng biển Tây Nam bộ. + Phân loại rong Câu bằng hình thái.
+ Phân loại rong Câu bằng phƣơng pháp PCR, giải trình tự gen. Luan van 4 Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG TÂY NAM BỘ CỦA VIỆT NAM 1.
Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu Vùng Tây Nam Bộ hay còn đƣợc gọi là Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng cực nam của Việt Nam. Khu vực gồm Thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, ĐBSCL là đồng bằng có tổng diện tích lớn nhất Việt Nam (40.547,2 km²), chiếm 13% diện tích cả nƣớc. Bản đồ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ) (Nguồn: Đồng bằng sông Cửu Long – Wikipedia tiếng Việt) Vùng Tây Nam bộ là đồng bằng bồi tích trong giai đoạn cuối của kì trầm tích Pleistocen.
Đồng bằng có cao trình thấp, với độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển <2m, có hệ thống sông ngòi dày đặc. Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là biển Đông. Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền, Luan van 5 điểm cực Tây ở phƣờng Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; cực Đông ở xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; cực Bắc ở xã Hƣng Điền A, huyện Vĩnh Hƣng, tỉnh Long An; cực Nam ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Ngoài ra, còn có các đảo xa bờ của Việt Nam nhƣ đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, Hòn Khoai.
Về phía Tây, ĐBSCL đƣợc giới hạn bởi sông Châu Đốc và kênh Vĩnh Tế một dòng kênh nhân tạo chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nƣớc sông Hậu Giang qua sông Châu Đốc tại thành phố Châu Đốc đổ nƣớc ra Vịnh Thái Lan, giới hạn một vùng đất thấp ngập nƣớc theo mùa gọi là tứ giác Long Xuyên. Vùng ĐBSCL của Việt Nam đƣợc hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nƣớc biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát (đất bằng) dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp nhƣ vùng Đồng Tháp Mƣời, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu (khu vực ngã ba Hậu Giang, Bạc Liêu và Cà Mau) ở bán đảo Cà Mau. Khí hậu và thủy văn Vùng Tây Nam bộ của Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa từ tháng 5 đến cuối tháng 9 bị ảnh hƣởng của gió mùa Tây Nam đến từ biển cả, ẩm ƣớt nhiều mƣa, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mƣa; từ tháng 11 đến trung tuần tháng 3 năm liền sau bị ảnh hƣởng gió mùa Đông Bắc đến từ đất liền, khô khan ít mƣa, từ tháng 10 đến tháng 11 là mùa khô, từ tháng 9 đến tháng 3 năm liền sau có thủy triều sáng và tối.
Mƣa dông có cƣờng độ rất lớn, thời gian xảy ra khá ngắn, phạm vi ảnh hƣởng khá nhỏ đều rất thƣờng xuyên trong suốt mùa mƣa. Bởi vì mùa tiết của mƣa phân bố không đồng đều, các nơi ở lƣu vực mỗi năm đều phải trải qua một đợt hạn hán có cƣờng độ và thời gian xảy ra khác nhau. Luan van 6 Tam giác châu thổ sông MeKong có lƣợng nƣớc chảy vào biển trung bình nhiều năm là 475 tỷ mét khối. Trữ lƣợng lý thuyết thủy năng ở lƣu vực sông MeKong là 58 triệu kilowatt, thủy năng đƣợc khai phát ƣớc tính là 37 triệu kilowatt, lƣợng phát điện hằng năm là 180 tỷ kilowatt giờ, trong đó 33% ở Campuchia và 51% ở Lào.
Dòng chảy ở lƣu vực tam giác châu sông MeKong đến từ mƣa, bởi vì ảnh hƣởng gió mùa không thay đổi hằng năm, cho nên đƣờng tiến trình mức nƣớc chủ yếu từ một năm thủy văn trƣớc đến một năm thủy văn sau hầu nhƣ không thay đổi, chênh lệch giữa mức nƣớc cao và mức nƣớc thấp không lớn. Theo công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (Việt Nam), khoảng 40% vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập trong nƣớc biển do biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, do ảnh hƣởng của hiện tƣợng Elnino, nhiều vùng ven biển của ĐBSCL gặp tình trạng hạn và nƣớc mặn xâm nhập sâu vào nội địa. Năm 2016, ĐBSCL hứng chịu đợt hạn hán và xâm nhập mặn nặng nề nhất trong vòng 100 năm, gây thiệt hại hơn 160.
ĐẶC ĐIỂM CỦA RONG CÂU (Gracilariaceae) 1. Vị trí phân loại Họ rong câu Gracilarieae đƣợc Fredericq và Hommersand (1990) phân thành 7 chi: Gracilaria Greville (1830), Hydropuntia Montagne (1842), Melanthalia Montagne (1843), Curdiea Harvey (1855), Gracilariophila Setehell et Winson in Winson (1910), Gracilariopsis Dawson (1949) và Congracilaria Yamamoto (1986). Ở Việt Nam cho đến nay đã xác định đƣợc có sự phân bố của một số loài thuộc 3 chi: Gracilaria Greville, Gracilariopsis Dawson và Hydropuntia Montagne [8]. Trong hệ thống phân loại, theo Greville, (1830) vị trí phân loại của rong câu nhƣ sau: Luan van 7 Giới thực vật Plantae Phân giới Biliphyta Ngành tảo Đỏ Rhodophyta Phân ngành 3 Eurhodophytina Lớp Florideophyceae Phân lớp Rhodymeniophycidae Bộ Gracilariales Họ Gracilariaceae Phân họ Gracilarioideae Tông Gracilarieae Chi Gracilaria Chi Gracilariopsis Chi Hydropuntia 1.
Thành phần loài và phân bố Chi rong Câu (Gracilaria) là một nhóm rong biển nƣớc ấm, thuộc họ rong Câu Gracilariaceae, bộ rong Câu Gracilariales, ngành rong Đỏ Rhodophyta, có hơn một trăm loài trên thế giới, một số trong đó có giá trị kinh tế rất quan trọng. Trong dữ liệu của Algaebase.org (2021) có 285 loài đƣợc cập nhật trong đó có 170 loài đƣợc chấp nhận. Theo thống kê của FAO vào năm 2011, trên thế giới đã có hơn 700.000 tấn rong câu đƣợc sản xuất. Năm 2016, Johor & ctv đã lập danh sách kiểm tra tảo biển ở biển Đông kết hợp với số liệu của Lê Nhƣ Hậu và Nguyễn Hữu Đại, 2008 tổng hợp các loài thuộc chi rong Câu ở Việt Nam đƣợc trình bày ở Bảng 1.
Bên cạnh đó, số lƣợng loài thuộc chi Gracilaria là 26 loài ở Việt Nam, đa dạng hơn so với các nƣớc khác ở biển Đông. Cụ thể là chi Gracilaria ở Singapore có 18 loài, Philippines – 17 loài, Malaysia – 13 loài, Thailand – 9 loài, Indonesia – 1 loài. Tính đến năm 2016, tổng cộng đƣợc 26 loài đƣợc ghi nhận tại Việt Nam so với thống kê năm 2008 có 13 loài đƣợc chấp nhận [1]. Luan van 8 Bảng 1.
Các loài thuộc chi Gracilaria ở Việt Nam [8] TT Tên khoa học Tên Việt Nam (1) (2) (3) 1 G. arcuata Zanardini rong câu cong 2 G. articulata Chang & Xia * 3 G. blodgettii Harvey rong câu gậy 4 G.
canaliculata Sonder rong câu nom 6 G. Lee & Kurogi rong câu nêm 10 G. firma Chang & Xia rong câu thắt 11 G.longirostris Zhang & Wang rong câu vòi voi 15 G. Howe rong câu phiến quăn 16 G.
rubra Chang & Xia rong câu đỏ 18 G. Agardh) Dawson rong câu đốt 19 G. Xia rong câu gai 20 G. tenuispitata Chang & Xia rong câu chỉ 22 G.
tenuispitata Chang & Xia var. liui Zhang & Xia rong câu chi mảnh 23 G. textorii (Suringar) De Toni rong câu dẹp 24 G. Xia rong câu nan quạt *: Những loài rong hiện chưa có tên Việt Nam Luan van 9 1.
Sơ lƣợc về Gracilaria tenuistipitata (Rong Câu Chỉ) Có 2 chủng loài rong Câu Chỉ khác nhau là G. tenuistipitata Chang và Xia (rong Câu Chỉ) và G.tenuispitata Chang & Xia var.