Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1. Khái quát về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch 1. Khái quát về hộ tịch Về khí cạnh ngôn ngữ, “Hộ tịch” là một từ ngoại lai gốc Hán được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt, rất khó xác định thời điểm xuất hiện. Hộ tịch được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, “hộ” được hiểu là “dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn cùng ở với nhau”.
“Tịch” có nghĩa là “sổ sách”, hay “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên, khi kết hợp hai thành tố này lại với nhau lại cho ra những khái niệm “hộ tịch” khác nhau. Các Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau (Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Lân, Bửu Kế) đã giải nghĩa từ “hộ tịch” như sau: Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người [1, tr.384]; Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người [12, tr.404]; Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người [18, tr.296]; Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường [10, tr.814]; Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương [13, tr.321]; Bên cạnh những cách giải nghĩa của các từ điển Hán - Việt nói trên, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn. Dưới đây là một số ví dụ: Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ [28, tr.442]; Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật [29, tr.
Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần [8, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, nghĩa của từ "hộ tịch" xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu và diễn giải khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển còn nhầm lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu”, nhưng tựu chung lại nghĩa của từ “hộ tịch” là việc đăng ký với chính quyền các sự kiện sinh tử, kết hôn trong thời hạn quy định hay việc ghi chép các sự kiện sinh tử, kết hôn của chính quyền nhằm quản lý dân cư. Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của của Đại học Luật khoa Sài Gòn chế độ Việt Nam cộng hòa. Trong đó nổi lên một số tác giả sau: Tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà.
Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử” [14, tr. Nghĩa về từ “hộ tịch” trong hệ thống pháp luật hiện hành được duy trì từ Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Theo đó, “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Điều 1, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định này thay thế cho Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998) quy định: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Nếu theo quan niệm cũ trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo quy định Nghị định số 158/2005/NĐ-CP tại Hộ tịch bao gồm 09 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc,. Các sự kiện hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản, bởi các sự kiện này có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân. Để làm rõ nội hàm, là cơ sở để xác định phạm vi đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch năm 2014 đã giải thích và làm rõ khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch và các vấn đề có liên quan: * Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết (Khoản 1 Điều 2). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.
Pháp luật về hộ tịch Pháp luật về hộ tịch là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch nằm trong các văn bản pháp luật khác nhau bao gồm: các quy định của Bộ luật dân sự 2005 (quy định về quyền nhân thân); Các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (quy định về đăng ký kết hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi); Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (trong nước); Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, ngày 10 tháng 7 năm 2002 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 68/2002/NĐ-CP. Các văn bản này hợp thành hệ thống chế định hộ tịch gồm hàng trăm điều quy định về thẩm quyền, thủ tục, trình tự đăng ký hộ tịch, quản lý nhà nước về hộ tịch, cấp bản sao các giấy tờ về hộ tịch…; Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch được xuất hiện từ thời phong kiến nhà Lê, nhà Trần nhằm đáp ứng các yêu cầu về thuế (sưu), binh lính, phu phen, tạp dịch, củng cố tiềm lực quốc phòng và đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Dưới thời Pháp thuộc, với bản chất thống trị và nô dịch, thực dân Pháp xây dựng hộ tịch nhằm phục vụ cho việc cai trị thuộc địa, chủ yếu đảm bảo thực hiện việc binh dịch, thuế khóa vả đặc biệt qua hộ tịch tiến hành các biện pháp kiểm soát chặt chẽ dân tình để trấn áp lực lượng yêu nước đấu tranh giành độc lập. Do đó, ngay từ rất sớm hộ tịch đã được xây dựng thành Luật khắp cả 3 miền: Bắc, Trung và Nam.
Tại miền Bắc, việc quản lý hộ tịch được thực hiện theo quy định từ Điều 18 đến Điều 48 của bộ Dân luật Bắc kỳ ngày 30/3/1931. Tại miền Trung việc quản lý hộ tịch được thực hiện theo quy định từ Điều 18 đến Điều 50 bộ Hoàng Việt Trung Hộ Luật do triều đình nhà Nguyễn ban hành ngày 13/7/1936. Tại miền Nam là Sắc lệnh ngày 03/10/1883, quy định việc lập sổ hộ tịch cho người Việt Nam, Sắc lệnh này được duy trì trong một 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời gian dài, chỉ được sửa đổi hai lần bởi các Sắc lệnh ngày 10/02/1893 và Sắc lệnh ngày 23/7/1931. Các quy định về hộ tịch của chế độ thuộc địa và tay sai tuy khá hoàn thiện, nhưng trong thực tiễn việc áp dụng không được như mong muốn của họ.
Do nhiều nguyên nhân, trước hết là do bản chất của chế độ, việc đăng ký và quản lý hộ tịch không nhằm mục đích phục vụ nhân dân mà để thống trị; Đa số người dân chưa thấy được quyền lợi từ việc thực hiện hộ tịch, đã phải gánh chịu nhiều nghĩa vụ từ những quy định hà khắc, không phù hợp với hoàn cảnh điều kiện sống của mình trong giai đoạn đó. Chủ trương của những người kháng chiến yêu nước, của cách mạng giải phóng dân tộc là bằng mọi cách phải lũng đoạn sự quản lý thống trị của thực dân xâm lược và của bộ máy tay sai vốn sẵn quan liêu, thi hành một cách máy móc. Vấn đề khác mang tính đặc thù, xuyên suốt không thể không đề cập đến, đó là chiến tranh ác liệt đã làm hạn chế không ít việc đăng ký và quản lý hộ tịch của các chế độ trước đây. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch của Nhà nước ta được đánh dấu bằng bản Điều lệ đăng ký hộ tịch đầu tiên được ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTg ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ.
Bản điều lệ này bao gồm 34 điều quy định các vấn đề cơ bản về việc đăng ký khai sinh; đăng ký kết hôn; đăng ký khai tử; việc ghi chú và thay đổi về hộ tịch; việc công nhận và đăng ký hộ tịch đối với ngoại kiều và Việt kiều về cư trú ở trong nước. Bản điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1956 thi hành được năm năm thì bị bãi bỏ và thay thế bằng bản Điều lệ đăng ký hộ tịch ngày 16/01/1961 ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP của Hội đồng Chính phủ. Bản điều lệ đăng ký hộ tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/1961 và hiệu lực của nó được duy trì trong suốt gần 40 năm sau, cho đến khi bị thay thế bởi Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Tuy nhiên, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn những hạn chế nhất định, trong đó chưa giải quyết thông thoáng được về thủ tục, phân cấp đăng ký và quản lý, biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý. Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn quy định rườm rà vả bất hợp lý, trái với Hiến pháp (quyền cơ bản của công dân), trái với một 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số đạo luật khác (quyền nhân thân: con sinh ra là phải đăng ký khai sinh); Ví dụ tại Điều 19 khoản 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP quy định "Nếu có đủ các giấy tờ hợp lệ thì Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp ngay một bản chính giấy khai sinh.