MỞ ĐẦU Với nhiệm vụ xác định thành phần, hàm lượng, tính chất và cấu trúc của mọi đối tượng vật chất, hóa phân tích đóng vai trò là ngành khoa học cơ sở cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau, bao gồm: hóa học, sinh học, địa chất học, môi trường, y học, … Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hóa học phân tích ngày càng khẳng định được vị trí của mình đối với sự phát triển của khoa học, công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi các vấn đề khoa học mới đặt ra yêu cầu sự liên kết các ngành khoa học với nhau để giải quyết thì hóa học phân tích không thể tách rời mối quan hệ ấy. Với chức năng của mình, hóa học phân tích hoàn toàn có khả năng cung cấp một nguồn dữ liệu đáng tin cây, tạo nền tảng cho các ngành khoa học khác nghiên cứu và giải quyết các vấn đề mang tính đa ngành. Vì vậy, hoàn thiện các phương pháp phân tích và sử dụng hóa phân tích như một công cụ để tạo bộ dữ liệu hoàn chỉnh về một vấn đề mới cung cấp cho các ngành khoa học khác vẫn đang là mối quan tâm lớn của các nhà phân tích hóa học.
Hiện nay, một trong những vấn đề sinh thái nghiêm trọng mà thế giới đang phải đối mặt là sự ô nhiễm kim loại nặng trong đất nông nghiệp. Vấn đề này là hậu quả của tình trạng ô nhiễm môi trường, việc chôn lấp rác thải công nghiệp và việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật cũng như phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, việc canh tác trên môi trường đất bị ô nhiễm kim loại sẽ dẫn đến sự hấp thu, tích lũy kim loại nặng trên nông sản. Vì vậy, ô nhiễm kim loại nặng trong nông sản đang ngày càng trở thành vấn đề đáng lo ngại đối với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam bởi độc tính, tính bền vững và khả năng tích lũy sinh học của chúng.
Sự thâm nhập của các kim loại nặng từ đất lên cây trồng trong điều kiện ô nhiễm là một quá trình quan trọng do đây được coi là con đường chính để các kim loại nặng có khả năng gây độc xâm nhập vào chuỗi thức ăn. Do vậy, đánh giá lượng kim loại nặng thâm nhập từ đất vào cây trồng là việc làm hết sức cần thiết. Trên cơ sở bộ dữ liệu 13 về mức độ tích lũy kim loại nặng trong sinh khối cây trồng khi canh tác trên môi trường đất ô nhiễm mà hóa học phân tích cung cấp, có thể đề xuất các giải pháp tạm thời như thay thế loại cây trồng, điều chỉnh chế độ canh tác,. và hướng đến giải pháp bền vững là giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường canh tác dựa trên sự kết hợp giữa các ngành sinh học, nông lâm, môi trường,.
Do mức độ cấp thiết của vấn đề, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tồn tại của các kim loại nặng trong môi trường đất và sự tích lũy của chúng lên cây trồng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều quan tâm đến việc xác định hàm lượng kim loại nặng trong các loại cây được trồng trên nền đất ô nhiễm kim loại nặng nhưng chưa khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu và tích lũy ion kim loại nặng trong cây. Trong khi đó, quá trình tích lũy các kim loại nặng từ đất lên cây trồng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như đặc điểm cơ hóa lý của nền đất, chế độ canh tác, loài và đặc điểm sinh lý thực vật cũng như sự tương tác, cạnh tranh giữa các kim loại nặng trong quá trình hấp thụ lên cây trồng. Từ các lý do trên, luận án “Nghiên cứu sự phân bố hàm lượng của các ion kim loại nặng (Cu2+, Pb2+, Zn2+) lên sinh khối một số loại rau (cà rốt, khoai tây, bó xôi, xà lách mỡ) được trồng trên nền đất chuyên canh rau Đà Lạt” được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu bao gồm: - Tối ưu hóa quy trình xử lý mẫu nhằm giảm thiểu thời gian và hóa chất.
- Đánh giá khả năng tích lũy đồng, chì và kẽm từ đất trồng bị ô nhiễm các ion kim loại này lên sinh khối các loại rau: cà rốt, khoai tây, bó xôi, xà lách mỡ. - Đánh giá ảnh hưởng của chế độ canh tác bao gồm việc sử dụng vôi, các loại phân bón hóa học N, P, K và lượng của các loại phân bón này đến khả năng tích lũy đồng, chì và kẽm lên sinh khối các loại rau trên. - Đánh giá khả năng hấp thu cạnh tranh giữa các ion Cu2+, Pb2+ và Zn2+ khi tích lũy từ đất trồng lên sinh khối các loại rau trên. 14 Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, nội dung nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề sau: - Thiết kế mô hình thực nghiệm.
- Triển khai mô hình thực nghiệm, ghi nhận sự phát triển của các loại rau nghiên cứu trên nền đất canh tác được gây ô nhiễm các ion kim loại Cu2+, Pb2+ và Zn2+ ở các mức hàm lượng khác nhau. - Thu hoạch và xử lý sơ bộ mẫu phân tích. - Tối ưu hóa quy trình xử lý mẫu rau sau thu hoạch và các thông số của thiết bị phân tích. - Đề xuất quy trình tối ưu xác định hàm lượng đồng, chì, kẽm trong các mẫu nông sản bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
- Xác định hàm lượng đồng, chì, kẽm trong các mẫu rau sau thu hoạch. - Xử lý số liệu. - Đánh giá kết quả nhận được. Ý nghĩa khoa học của luận án Kết quả của luận án sẽ góp phần về mặt lý luận giải thích mối tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng trong môi trường canh tác và hàm lượng kim loại nặng tích lũy trong sinh khối thực vật.
Việc làm rõ ảnh hưởng của bản chất kim loại nặng, đặc điểm sinh lý thực vật, chế độ canh tác, sự cạnh tranh giữa các kim loại nặng khi cùng tồn tại trong môi trường đến sự tích lũy kim loại nặng trong sinh khối thực vật sẽ cung cấp cơ sở cho phép dự báo mức độ tích lũy kim loại nặng từ đất lên cây trồng. Bộ dữ liệu về mức độ tích lũy các kim loại nặng từ đất ô nhiễm lên cây trồng, ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau sẽ cung cấp cơ sở triển khai hướng nghiên cứu đa ngành – xu thế mới của khoa học hiện đại. Ý nghĩa thực tiễn của luận án Quy trình xử lý mẫu sau khi tối ưu hóa sẽ rút ngắn được thời gian, tiết kiệm hóa chất cho phép xử lý một lượng lớn mẫu trong thời gian ngắn với hiệu suất thu hồi cao. 15 Kết quả nghiên cứu sẽ cho phép đánh giá được mức độ hấp thu kim loại nặng ở thực vật khi được canh tác trên môi trường ô nhiễm.
Bộ số liệu nhận được có thể cung cấp cơ sở cho các ngành khoa học khác như cải thiện quy trình canh tác, nghiên cứu sự biến đổi các đặc trưng sinh thái đồng ruộng khi bị ô nhiễm kim loại nặng,. Những đóng góp mới của luận án Xây dựng được quy trình tối ưu xử lý mẫu thực vật để phân tích hàm lượng kim loại trong chúng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử. Đánh giá được khả năng tích lũy các kim loại Cu, Pb, Zn từ đất trồng chuyên canh rau Đà Lạt lên sinh khối các loại rau: cà rốt, khoai tây, bó xôi, xà lách mỡ. Đánh giá được ảnh hưởng của lượng vôi, lượng phân bón N, P, K cũng như sự có mặt của kim loại khác đến khả năng tích lũy Cu, Pb, Zn trên sinh khối các loại rau nghiên cứu khi trồng trên đất ô nhiễm kim loại nặng.
Hướng phát triển của luận án Các kết quả nhận được trên cơ sở phân tích về hóa học sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng để có thể triển khai hướng nghiên cứu về sinh học di truyền nhằm trả lời được câu hỏi liệu nguồn gen có đóng vai trò quan trọng trong quá trình hấp thu và tích lũy kim loại nặng không và ở thế hệ tiếp sau, khả năng này có biến đổi, chúng ta có thể tạo ra một thế hệ thực vật biến đổi gen có khả năng thích ứng cao với môi trường ô nhiễm hay không? … Ngoài ra, kết quả nghiên cứu mà luận án đạt được cũng là nguồn dữ liệu quan trọng đóng góp cho ngành sinh học phân tử nhằm giải thích được cơ chế của hiện tượng, từ đó nghiên cứu cơ chế kích hoạt khả năng chống chịu với môi trường ô nhiễm kim loại nặng của thực vật. KIM LOẠI NẶNG 1. Định nghĩa Kim loại nặng được định nghĩa là các kim loại có tỷ trọng lớn hơn 5g/cm3. Với sự phân loại này, kim loại nặng bao gồm các nguyên tố chuyển tiếp và các kim loại có trọng lượng nguyên tử cao hơn của các nguyên tố từ nhóm III đến nhóm V trong bảng phân loại hệ thống tuần hoàn.
Chúng bao gồm: As (d = 5,72), Pt (d = 21,45), Sn (d = 6,99), Cd (d = 8,6), Cr (d = 7,10), Co (d = 8,90), Cu (d = 8,96), Pb (d = 11,34), Hg (d = 13,53), Bi (d = 9,78), Ni (d = 8,91), Fe (d = 7,87), Mn (d = 7,44), Zn (d = 7,10),. Trên quan điểm về độc học sinh thái và dựa trên bản chất của chúng, các kim loại nặng được chia thành hai nhóm: - Nhóm kim loại nặng thiết yếu: bao gồm các nguyên tố cần thiết cho chức năng chuyển hóa của sinh vật khi tồn tại với hàm lượng nhỏ như Mn, Co, Cu, Zn, Fe, ., chúng được gọi là các nguyên tố vi lượng. Tuy nhiên, khi tồn tại với hàm lượng cao, các kim loại này sẽ gây độc cho cơ thể sinh vật [86]. - Nhóm kim loại nặng độc: là các kim loại bền, không tham gia vào quá trình sinh hóa trong cơ thể và có tính tích lũy sinh học (chuyển tiếp trong chuỗi thức ăn và đi vào cơ thể sinh vật).
Các kim loại này bao gồm: Hg, Ni, Pb, As, Cd, Pt, Cr, Sn,. Khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật, chúng gây độc cấp tính và mãn tính [87]. Tính chất Các kim loại nặng là tác nhân ô nhiễm nguy hiểm đối với môi trường, chuỗi thức ăn và con người do hầu hết các kim loại nặng không phân hủy và tồn tại dai dẳng trong hệ sinh thái.