Chương 1: Tổng quan về nhiệt cắt và các phương pháp xác định nhiệt cắt khi mài. Chương 2: Ứng dụng phần mềm ANSYS để giải bài toán truyền nhiệt. -5- Chương 3: Tính toán và mô phỏng phân bố nhiệt cắt khi mài phẳng. Kết luận chung.
Lời cảm ơn Luận văn này đối với tác giả là một cơ hội lớn để rèn luyện khả năng nghiên cứu, thực hiện một đề tài khoa học. Trong thời gian thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự quan tâm rất lớn của nhà trường, các khoa, các giảng viên và các đồng nghiệp. Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến T. Nguyễn Trọng Hiếu – Giảng viên Bộ môn Công nghệ chế tạo máy, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Kỹ thuật Công Nghiệp Thái Nguyên cũng như Ban giám hiệu, đặc biệt là thầy Phó hiệu trưởng- T. Ngô Cƣờng, Trường Cao Đẳng Kinh Tế - Kỹ Thuật Thái Nguyên đã đóng góp những ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn. Tác giả mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp, các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tiễn hơn nữa. Xin chân thành cảm ơn! Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 2010 Người thực hiện Nguyễn Xuân Vinh Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ NHIỆT CẮT VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHIỆT CẮT KHI MÀI 1.
Đặc điểm quá trình mài Quá trình mài là quá trình cắt gọt vật liệu bằng các hạt mài có độ cứng cao. Mài có nhiều đặc điểm khác biệt so với các phương pháp gia công cắt gọt khác: -6- - Đá mài là loại dụng cụ cắt có rất nhiều lưỡi cắt không liên tục đồng thời tham gia cắt, các lưỡi cắt được tạo ra bởi các hạt mài có kích thước rất nhỏ, có hình dáng rất khác nhau và phân bố lộn xộn trong chất dính kết. Đa số các hạt mài có nhiều lưỡi cắt, có góc lượn ở đỉnh và có góc cắt không thuận lợi cho điều kiện cắt gọt: góc trước thường âm và góc cắt thường lớn hơn 900. - Tốc độ cắt khi mài rất cao (≥ 30 m/s, mài cao tốc có thể lên tới 120 m/s hoặc cao hơn).
- Do góc cắt không hợp lý, tốc độ cắt cao nên nhiệt độ ở vùng cắt khi mài rất lớn (1000 ÷ 15000 C) làm thay đổi cấu trúc tế vi lớp kim loại bề mặt. - Khi mài, mỗi hạt mài tạo ra một phoi riêng biệt có kích thước rất nhỏ, số lượng phoi tạo ra trong một đơn vị thời gian rất lớn (hàng nghìn phoi trong một phút), vì thế có thể coi quá trình mài là quá trình cào xước tế vi bề mặt gia công tạo ra độ nhẵn bóng và độ chính xác cao. - Hạt mài có độ cứng cao, cắt gọt không liên tục nên có thể gia công được những vật liệu rất cứng mà các dụng cụ khác không cắt được như thép tôi, hợp kim cứng… nhưng lại không gia công được những vật liệu rất mềm. - Trong quá trình cắt, đá mài có khả năng tự mài sắc: dưới tác dụng của tải trọng cơ, nhiệt các hạt mài đã mòn bật ra khỏi bề mặt đá tạo điều kiện cho những hạt mài mới tham gia vào quá trình cắt, ngoài ra một số hạt mài vỡ tạo thành những lưỡi cắt mới.
- Do hiện tượng tự mài sắc cũng như không thể chủ động thay đổi được hình dáng và vị trí của hạt mài trong đá mài cho nên việc nghiên cứu và điều khiển quá trình mài gặp nhiều khó khăn, các quy luật của quá trình mài chưa được nghiên cứu toàn diện. Do những đặc điểm trên, đặc biệt là khả năng gia công các vật liệu có độ cứng và độ bền cao cho độ chính xác và độ nhẵn bóng bề mặt cao nên phương pháp mài có vị trí quan trọng trong gia công cơ khí hiện đại. Mặc dù được sử dụng cả trong gia công thô nhưng chỉ trong gia công tinh thì những ưu thế của phương pháp mài mới thực sự được phát huy, vì vậy mài thường được chọn là nguyên công gia công tinh lần cuối các bề mặt quan trọng [2]. Ảnh hƣởng của nhiệt cắt đến chất lƣợng bề mặt chi tiết gia công -7- Trong gia công tinh lần cuối nói chung và gia công tinh lần cuối bằng phương pháp mài nói riêng thì chất lượng bề mặt gia công rất được quan tâm vì có ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc sau này của chi tiết máy.
Chất lượng bề mặt gia công là kết quả của quá trình tương tác lý, hóa phức tạp giữa các vật liệu trong vùng gia công. Nhiệt cắt trong quá trình mài Do tốc độ cắt cao và góc cắt của các hạt mài không thuận lợi cho điều kiện cắt gọt nên nhiệt độ ở vùng tiếp xúc giữa đá mài với chi tiết gia công rất lớn (khoảng 1000 15000C), thời gian tác dụng để phát sinh nhiệt rất ngắn (1.10-6s) sau đó nhiệt lại giảm xuống nhanh chóng. Hệ số truyền nhiệt của thép phụ thuộc vào hàm lượng hợp kim [5]. Hàm lượng hợp kim 2 % Cr 0,025 12 % Cr 0,050 18 % w 0,070 2 % Mn 0,078 1,1 % C 0,102 Tỷ lệ các nguyên tố hợp kim trong vật liệu là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hệ số truyền nhiệt của vật liệu.
Những vật liệu có số lượng và hàm lượng nguyên tố hợp kim cao thì hệ số truyền nhiệt thấp. Khi mài những loại vật liệu này nhiệt lan truyền chậm làm cho nhiệt độ vùng mài tăng cao, bề mặt chi tiết mài dễ bị cháy, nứt (bảng 1. Khác với các phương pháp cắt gọt khác, nhiệt độ mài chủ yếu truyền vào chi tiết gia công (65% 84%), phần còn lại truyền vào đá mài (11% 12%), vào dung dịch trơn nguội (4% 13%) và vào phoi không đáng kể (3% 7%) [2]. Ảnh hƣởng của nhiệt cắt đến cấu trúc lớp kim loại bề mặt chi tiết gia công Lực cắt khi mài không lớn so với các phương pháp cắt gọt khác nhưng do tốc độ cắt cao, góc cắt của các hạt mài không thuận lợi cho điều kiện cắt gọt, sự tham gia cắt gọt của nhiều hạt mài và sự ma sát, cào miết của các hạt mài không cắt gọt làm cho nhiệt phát sinh trong vùng tiếp xúc giữa đá mài và chi tiết gia công rất lớn (1000 ÷ 1500oC).
Nhiệt cắt khi mài -8- lớn làm biến dạng mạng tinh thể của vật liệu. Kiểm tra kim tương bề mặt mài của các loại thép đã tôi cho thấy có sự thay đổi cấu trúc, lượng ôstenit dư tăng lên chứng tỏ trong quá trình mài có sự tôi lại lần hai. Sự thay đổi cấu trúc lớp bề mặt chỉ xảy ra với các loại thép đã tôi cứng còn với những loại thép chưa tôi, cấu trúc lớp bề mặt không thay đổi. Kiểm tra kim tương bề mặt mài thép đã tôi cho thấy: - Lớp 1 được nung tới nhiệt độ tới hạn AC3 và được làm nguội nhanh, do đó lớp 1 bị tôi lại.
- Lớp 2 được nung nóng ở nhiệt độ AC1 đến AC2 và được làm nguội nhanh, do đó lớp 2 được tôi lại 1 2 3 4 5 không đầy đủ. Cấu trúc lớp bề mặt mài [2]. - Lớp 3 được nung nóng đến AC1 nên lớp 3 được ram lại. - Lớp 4 bị nung nóng nên thể tích tăng không đầy đủ (vì liên kết với lớp 5).
Kết quả: + Độ cứng lớp bề mặt giảm. + Lớp 1, 2, 3 không có ứng suất dư, lớp 4 có ứng suất dư nén, lớp 5 có ứng suất dư kéo. Khi mài thép đã tôi sẽ xảy ra cháy bề mặt mài nếu nhiệt độ mài vượt quá AC3 và sau đó được làm nguội nhanh. Chiều sâu lớp bị cháy có thể tới 0,2mm, độ cứng giảm nhiều và thường phát sinh vết nứt như trong hình 1.
Cấu trúc tế vi pha Austennit của thép không gỉ AISI 304 [14] Trong trường hợp mài với chế độ cắt lớn, đá bị cùn thì cháy sẽ xuất hiện ở bề mặt mài làm giảm độ cứng lớp kim loại bề mặt (từ 60 ÷ 65 HRC xuống 45 ÷ 55 HRC) đồng thời xuất hiện vết nứt trên bề mặt mài [2]. Công suất mài tại ngưỡng cháy bề mặt có thể xác định theo công thức thực nghiệm [1]: Nch = u0apυfa + bapDe1/4a1/4υc1/2 (1.2) Trong đó: u0, b - Các hệ số thực nghiệm; ap - Bề rộng mài (mm); De - Đường kính tương đương của đá mài (mm); υf - Vận tốc chi tiết (mm/min) và a - Chiều sâu mài (mm); Cháy bề mặt mài làm giảm tuổi thọ của chi tiết gia công. Vì có ảnh hưởng lớn đến chất lượng bề mặt gia công nên các biện pháp giảm nhiệt cắt khi mài được đặc biệt quan tâm. Có thể giảm năng lượng mài bằng công nghệ trơn nguội hợp lý hơn, chọn đá mềm hơn, sửa đá thô hơn để thỏa mãn điều kiện N Nch.
Ảnh hƣởng của nhiệt cắt đến ứng suất dƣ lớp bề mặt chi tiết gia công Quá trình chuyển biến về cấu trúc của lớp kim loại bề mặt mài do nhiệt cắt cũng đồng thời làm xuất hiện ứng suất dư ở lớp kim loại bề mặt. Ứng suất dư hình thành trong quá trình mài do 3 tác động sau: - Sự co, giãn vì nhiệt. - Sự biến đổi pha do nhiệt độ mài cao. - Biến dạng dẻo gây ra do sự tác động qua lại của đá mài và phôi.
Hạt mài Nhiệt độ Ứng suất kéo Ứng suất nén Ứng suất chảy trên Ứng suất dư - 10 - Các yếu tố ảnh hưởng tới ứng suất dư trong lớp bề mặt mài gồm: - Điều kiện cắt (chiều sâu cắt, vận tốc đá, vận tốc chi tiết gia công). - Topography của đá mài (chế độ sửa đá, trạng thái mòn). - Đặc điểm của đá mài (loại và kích thước hạt mài, cấu trúc đá, độ cứng đá và loại chất dính kết). - Chế độ bôi trơn.
Sự khác nhau về đặc điểm và topography của đá ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh nhiệt dẫn đến sự khác nhau về ứng suất dư. Vì tính chất nhiệt và tính chất cơ học của CBN tốt hơn của Al203, sự phân chia năng lượng nhiệt vào chi tiết gia công khi sử dụng đá CBN thấp nên hư hại do nhiệt giảm, cháy rất ít xuất hiện và ứng suất dư sinh ra chủ yếu là ứng suất dư nén. Sự tồn tại ứng suất dư bên trong chi tiết ảnh hưởng lớn đến chất lượng làm việc của chi tiết.