Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Tổng quan về Xoáy thuận nhiệt đới và công tác giám sát phân tích xoáy thuận nhiệt đới Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) là một hệ thống áp thấp quy mô synop (thường không quá 1000km), không có front trên vùng biển nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới với hoạt động đối lưu có tổ chức và hoàn lưu gió bề mặt rõ ràng. [1] XTNĐ thường hình thành trên vùng biển có nhiệt độ bề mặt lớn hơn 26.50C, có thể tiếp diễn trong nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần (ví dụ như bão John – Typhoon John - đã kéo dài tới 31 ngày từ ngày 11 tháng 8 năm 1994 tới ngày 12 tháng 9 năm 1994). Dựa vào tốc độ gió lớn nhất sát bề mặt ở vùng gần tâm xoáy, tổ chức khí tượng thế giới (WMO) [2] phân loại XTNĐ thành các cấp độ khác nhau, ví dụ bão có tốc độ gió cực đại >17.
Sự hoạt động của XTNĐ đặc biệt lúc đổ bộ vào đất liền gây ra những thiệt hại rất lớn về con người và tài sản. Vì vậy việc nghiên cứu để đưa ra dự báo về cường độ và quỹ đạo của XTNĐ là vấn đề cấp thiết và rất được chú trọng nghiên cứu nhằm giảm thiểu những hệ quả do XTNĐ gây ra. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp và công cụ được đưa vào nghiên cứu, thử nghiệm theo dõi vị trí và cường độ của XTNĐ. Các nghiên cứu trong nước Một trong những kĩ thuật phân tích bão được sử dụng ở hầu khắp các trung tâm dự báo trên thế giới đó là kĩ thuật Dvorak [3].
Trải qua rất nhiều năm cải tiến, từ phương pháp Dvorak cổ điển năm 1980 tới nay phương pháp Dvorak cải tiến nhất là ADT [4]. Phương pháp Dvorak truyền thống (DT) được tính toán dựa trên ảnh VIS và ảnh IR. Quá trình thực hiện phương pháp được chia thành 10 bước [5]: Trang - 3 Luận văn Thạc sĩ – Chu Thị Huyền Trang Hình 1. Mười bước xác định cường độ XTNĐ bằng phương pháp Dvorak [5] Quy trình thực hiện kĩ thuật Dvorak cải tiến ADT được chia thành 3 bước chính [5]: Hình 2.
Sơ đồ mô tả các bước phân tích tâm, cường độ XTNĐ sử dụng trong phương pháp ADT [5] Trang - 4 Luận văn Thạc sĩ – Chu Thị Huyền Trang Nhìn vào sơ đồ Hình 2 có thể thấy, nhược điểm của phương pháp ADT nằm ngay ở những bước đầu tiên xác định tâm xoáy. Các giá trị khởi tạo ban đầu của vị trí tâm hoặc là mang tính chủ quan dựa vào dự báo viên làm thủ công, hoặc là sử dụng từ các trung tâm dự báo quốc tế, hoặc là khoanh vùng miền áp dụng tính toán từ thông tin dự báo một cách tuyến tính vị trí XTNĐ trong 1-3 ngày. Không chỉ vậy, phương pháp ADT còn tồn tại những bất cập trong việc tự động nhận dạng mẫu mây. Năm 2018, Trần Quang Năng và ccs “So sánh kĩ thuật phân tích cường độ bão Dvorak cải tiến (ADT) và phương pháp phân tích Dvorak (DT) trong nghiệp vụ dự báo bão trên khu vực biển Đông” [6].
Nghiên cứu bao gồm hai phần chính: phần 1 so sánh giữa phương pháp Dvorak cổ điển và phương pháp Dvorak cải tiến cho cơn bão Megi (2010), phần 2 là những đánh giá chi tiết về cường độ, sai số hệ thống, khả năng nhận dạng mây bão của ADT với DT giai đoạn 2010 - 2015. Kết quả của phần 1 cho thấy phương pháp ADT không thể hiện sự ưu việt hơn so với phương pháp DT trong việc mô phỏng cơn bão Megi (thể hiện ở việc sai số so với Quỹ đạo bão chuẩn (QĐBC) của ADT lớn hơn DT). Sai số này có nguyên nhân chính là do phương pháp ADT nhận dạng nhầm mẫu mây. Ở phần 2, đối với đánh giá khả năng nhận dạng mây, nhìn chung DT phân thành 5 dạng mây còn ADT phân thành 6 dạng mây.
Khi XTNĐ phát triển mạnh thì cả 2 phương pháp đều nhận dạng tương đồng nhau, tuy nhiên ở giai đoạn hình thành hoặc suy yếu thì có sự khác biệt khá rõ, đặc biệt trong trường hợp nhận dạng mẫu mây dạng băng cuốn. Từ đó dẫn đến nhận dạng cường độ khác nhau. Đối với đánh giá cường độ giữa 2 phương pháp, nhìn chung DT có sai số thấp hơn ADT trong hầu hết các mẫu dạng phân tích mây bão. Tuy nhiên các tác giả cũng lưu ý một điều rằng phương pháp ADT đang được hiệu chỉnh khác với chế độ đo gió của Việt Nam, cường độ này có thể lớn hơn khoảng 5-10% so với QĐBC.
Đối với giai đoạn phát triển mạnh nhất của bão, sự chính xác của ADT có thể được xem như là giá trị cận trên có khả năng xảy ra nhất trong việc phân tích cường độ bão. Các nghiên cứu nước ngoài Trang - 5 Luận văn Thạc sĩ – Chu Thị Huyền Trang Năm 2006, Q.Zhang và ccs [7] đã xác định tâm XTNĐ một cách tự động bằng kĩ thuật xử lí hình ảnh dựa trên ảnh vệ tinh. Sau khi tiền xử lí, một số kĩ thuật xác định tâm sẽ được áp dụng, dựa trên cơ sở kết hợp chuyển động của xoáy và tịnh tiến. Theo hình dạng đối xứng của XTNĐ và đặc điểm xoắn ốc của nó, đường xoắn logarit được sử dụng để khớp với rìa của đám mây đặc trưng xoáy thuận, có thể được sử dụng để ước tính tâm xoáy.
Theo chuyển động của XTNĐ, một phương pháp đối chiếu xoay vòng (rotation matching) sẽ được áp dụng để theo dõi đường đi thông qua trình tự hình ảnh. Phân đoạn hình ảnh được sử dụng để phân biệt các đối tượng từ nền của chúng. Đối với hình ảnh cường độ (những hình ảnh được đại diện bởi các mức cường độ), bốn cách tiếp cận phổ biến là: - Kĩ thuật ngưỡng: dựa trên thông tin pixel cục bộ, có hiệu quả khi mức cường độ của đối tượng nằm ngoài phạm vi của mức trong nền. - Phương pháp dựa trên cạnh: xoay quanh việc phát hiện đường viền.
- Phương pháp dựa trên vùng: hình ảnh được phân vùng thành các vùng được kết nối bằng cách nhóm các pixel lân cận có mức cường độ tương tự. Các vùng liền kề sau đó được hợp nhất theo một số tiêu chí liên quan đến độ sắc nét của ranh giới vùng. - Phương pháp dựa trên connectivity-preserving relaxation: bắt đầu với 1 số hình dạng đường biên ban đầu được biểu diễn dưới dạng các đường cong, sau đó được sửa đổi thu nhỏ/mở rộng theo một số hàm năng lượng khác nhau. Mô hình khớp xoắn được đề xuất trong nghiên cứu này chia thành các giai đoạn: tính năng khai thác đám mây, tính năng làm mịn đám mây, tính năng trích xuất skeleton (hình dạng theo ít chiều hơn) của đám mây và mô phỏng dựa trên thuật toán bình phương nhỏ nhất.
Nghiên cứu này cũng trình bày phương phương pháp xoay tâm. Tâm bão được xác định là điểm ở khu vực trung tâm của cơn bão có vecto quay bằng 0 và được xác định bằng phương pháp hình học. Kết quả cho thấy, tâm hình học của một số giá trị được tính toán được sử dụng làm tâm thực của XTNĐ. Sử dụng phân tích hình ảnh có thể thấy kết quả đủ chính xác để đưa ra dự báo 1 cách chắc chắn.
“Một thuật toán mới để tự động tìm mắt của XTNĐ bằng cách sử dụng dữ liệu radar Doppler” [8] của Ka Yan Wong và ccs năm 2007 mô tả một phương pháp phân Trang - 6 Luận văn Thạc sĩ – Chu Thị Huyền Trang tích cấu trúc trường chuyển động để định vị mắt XTNĐ chính xác hơn. Thử nghiệm cho 4 cơn bão hoạt động trên biển Đông, Dữ liệu được sử dụng là các hình ảnh phản xạ radar CAPPI 3km được chụp mỗi 6 phút, cùng với vận tốc Doppler. Thuật toán được xây dựng dựa trên kĩ thuật voting. Một chuỗi các hình ảnh radar được mô hình hóa dưới dạng video, xây dựng thành trường vecto chuyển động để phân tích.
Tâm XTNĐ được xác định bằng cách định vị điểm được bao phủ bởi số lượng cung lớn nhất (tạo ra bởi các vecto quay). Để đánh giá hiệu suất của phương pháp, một hệ thống dựa trên Java được xây dựng. Sai số trung bình của các XTNĐ nằm hoàn toàn trong phạm vi quét của radar là 0.150 theo kinh/vĩ độ trên bản đồ Mercator Projection. Thuật toán này cũng có thể hữu ích cho các XTNĐ đang trong giai đoạn tan rã hoặc ngoài phạm vi của Radar.
Năm 2010, Juhong Zou và ccs [9] đã phát triển thuật toán tự động nhận dạng bão từ dữ liệu gió QuikSCAT. Các đặc điểm biểu đồ về tốc độ gió và hướng gió của bão được sử dụng để nhận dạng thô, sau đó nhận dạng chính xác hơn sử dụng các đặc tính hoàn lưu của bão được áp dụng cho dữ liệu gió, để bão quan sát được bởi QuikSCAT có thể nhận dạng một cách tự động. Ví dụ một trường hợp thử nghiệm là cơn bão Morakat năm 2009 với dữ liệu QuikSCAT do PO.DACC cung cấp. Với nhận dạng thô, tốc độ gió được coi là tiêu chí để xác định bão.
Nếu 1 cơn bão tồn tại nằm trong một khu vực giới hạn được xác định trước trích xuất từ hình ảnh QuikSCAT, tốc độ gió tối đa trong khu vực phải vượt quá một tốc độ gió tối thiểu (ví dụ 8 m/s) và tiêu chí này phải được đáp ứng ít nhất 300 lần trong vùng xác minh. Với nhận dạng chính xác hơn sử dụng 3 tiêu chí: 1. Góc giữa hướng gió và dòng dẫn tại mỗi ô phải nhỏ hơn 1 góc tối thiểu 450 2. Trên dòng dẫn, sự khác biệt của hướng gió giữa 2 ô lân cận nên nhỏ hơn 200 3.
Có ít nhất một vòng tròn khép kín. Trang - 7 Luận văn Thạc sĩ – Chu Thị Huyền Trang Hình 3. Nhận dạng bão Morakat từ dữ liệu QuikSCAT [9] Kết quả được thể hiện trên hình 3 cho thấy một cơn bão tồn tại trong vùng giới hạn (đường màu đen). Tất cả các giai đoạn của bão mà QuikSCAT quan sát được kể cả nằm ở rìa mặt cắt của QuikSCAT cũng đều được xác định chính xác.
Năm 2013, Gang Yin và Yu Feng Chen [10] giới thiệu một thuật toán mới tự động định vị mắt bão dựa trên ảnh mây vệ tinh hồng ngoại. Cơ sở của phương pháp là dựa vào sự khác biệt về giá trị màu xám khá rõ ràng trong các khu vực khác nhau của ảnh mây hồng ngoại. Sau khi tiền xử lí ảnh mây, các tác giả sử dụng mẫu x33 để phân đoạn vùng tường mây có giá trị xám cao. Sau đó thực hiện xử lí binarization cho hình ảnh và sử dụng phương pháp kết hợp với hình thái toán học và trí tuệ nhân tạo để xử lí hình ảnh trong quá trình lọc.