CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NGUYEN TAC HON NHÂN MOT VỢ MOT CHONG 1. Khái niệm chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 1. Khái niệm hôn nhân một vợ một chong.Mác và Ăngghen đã chứng minh một cách khọc rằng hôn nhân và gia đình là một phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Vì vậy, gắn với mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định sẽ có một chế độ hôn nhân gia đình khác nhau.
Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thái gia đình cũng phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái gia đình huyết tộc, gia đình Pu-na-lu-an, sang hôn nhân đối ngẫu và cuối cùng là hôn nhân một vợ một chồng. Trong đó, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được coi là hình thái gia đình tiến bộ. Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển các hình thái hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế hệ, mỗi thế hệ tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định mà chỉ cho phép có quan hệ tính giao trong giới hạn đó. Hình thái hôn nhân này tạo nên gia đình huyết tộc mà trong đó, anh chị em đồng thời là vợ, chồng của nhau.
Tiếp đến là hình thái hôn nhân tiến bộ hơn là gia đình Pu-na-lu-an. Trong gia đình Pu-na-lu-an, quan hệ tính giao giữa anh em trai với chị em gái trong cùng một gia đình đã bị ngăn cắm. Khi gia đình Pu-na-lu- an chuyền thành gia đình đối ngẫu, xuất hiện hình thái hôn nhân mới - chỉ có từng cặp vợ chồng. Gia đình đối ngẫu là đơn vị hôn phối, không bền vững, dé bị phá vỡ bởi người vợ hoặc người chong.
Sau đó là sự xuất hiện của hình thái hôn nhân một vợ một chong. Hôn nhân một vợ một chồng đặc trưng cho một chế độ xã hội mới. Ở đó, gia đình đối ngẫu chuyền thành gia đình cá thể, trong xã hội của gia đình cá thé, chế độ mẫu quyền đã được thay bằng chế độ phụ quyên.Angghen đã kết luận rằng chế độ một vợ một chồng này “zuyết không phải là kết quả của tình yêu trai gái, nó tuyệt nhiên không dính dáng gì đến thứ tình yêu này, vì như trước kia các cuộc hôn nhân van là những cuộc hôn nhân có tinh lợi hai. Gia đình ca thể là hình thức gia đình dau tiên không căn cứ vào các điêu kiện tự nhiên mà căn cứ vào các điều kiện kinh tế, vào sự thắng lợi của chế độ tư hữu đối với chế độ công hữu lúc ban dau, được hình thành một cách tự phat” [2, tr.
Chế độ một vợ một chồng ban đầu xuất hiện trong xã hội tư hữu chủ yếu dé bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, của cải của người đàn ông trong gia đình. Đồng thời, đảm bảo con cái do người vợ đẻ ra phải là con của chồng bà ta và theo họ cha chứ không phải theo họ mẹ, nhằm thừa kế tài sản của cha mà thực chất là duy trì chế độ tư hữu. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, khi mà chế độ mẫu quyền thay bang chế độ phụ quyền, người mẹ không còn vai trò như trước thì quan hệ một vợ một chồng chỉ đặt ra với người vợ mà không đặt ra với người chồng. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng chỉ là hình thức.
Dưới xã hội phong kiến, hôn nhân một vợ một chồng không được liên kết dựa trên tình cảm mà dựa trên cơ sở tài sản, có tính toán đến lợi ích và mang tính hình thức. Hôn nhân một vợ một chồng chỉ tồn tại về phía người phụ nữ, pháp luật thời kỳ này cho phép người đàn ông lấy nhiều vợ. Việc một người đàn ông có thê lay nhiều vợ một cách công khai, đã tạo ra sự bất bình đăng giữa vợ và chồng, gây nhiều thiệt thoi cho người phụ nữ. Đến nhà nước tư bản, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật quy định thay thế cho chế độ đa thê.
Trong Bộ luật Dân sự cộng hòa Pháp quy định: “Người ta không thể xác lập hôn nhân thứ hai trước khi cham ditt hôn nhân thứ nhất” [6]. Qua đó, thể hiện sự tiễn bộ của xã hội tư bản, đã công nhận ở mức nhất định quyền bình đăng giữa nam nữ, giữa vợ và chồng trong quan hệ gia đình. Mặc dù, về hình thức nhà nước tư bản thừa nhận hôn nhân một vợ một chồng ở cả hai phía, nhưng xét về bản chất “hôn nhân của gia cấp tư sản thật ra là chế độ cộng thể” [2] và trên thực tế thì nguyên tắc đó đã bị phá vỡ do tệ nạn ngoại tình và mại dâm công khai. Ngay trong xã hội tư bản, hôn nhân một vợ một chồng tồn tại cũng chưa đúng ngữ nghĩa của nó.
Đến chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân một vợ một chồng mới đúng như bản chất thực sự của nó: “mét vợ một chong theo nghĩa giữ nguyên chứ tuyệt nhiên không phải theo nghĩa lịch sử của danh từ”[2]. Đến chê độ xã hội chủ nghĩa, “Khi các tư liệu san xuất biến thành tài sản xã hội, thì chế độ lao động làm thuê sẽ mát đi và tình trạng một sô phụ nữ cán phải bản mình vì đồng tiên sẽ mat đi. Tệ nạn mại dâm sẽ mat di và chế độ một vợ một chong không những không bị suy tàn mà cuối cùng còn trở thành hiện thực ngay cả với đàn ông nữa” [2, tr120-121]. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một sự thay đôi sâu sắc toàn diện.
Nó không chỉ xóa bỏ tất cả những hình thức tư hữu đối với tư liệu sản xuất mà còn cả những quan hệ do chế độ tư hữu đẻ ra và dựa vào chế độ tư hữu đó. Chỉ lúc đó hôn nhân mới dựa trên cở sở tình yêu nam và nữ. Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong tục, tập quán .nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hôn nhân, chăng hạn: - Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (Common law), phổ biến một khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thông về hôn nhân của Cơ đốc giáo, do Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866): “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, ma không vì mục dich nào khác ”. Ngoài khai niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu Âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam va một người nữ với tu cách là vợ chong”, hoặc: “Hồn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chông” [9] - Ở Việt Nam, trong Luật HN&GD năm 2000 quy định cụ thé tại Khoản 6, Điều 8 Luật HN&GD năm 2000 và Khoản 1, Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chông sau khi đã kết hôn”.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu: “Sw liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tac tự nguyện, bình dang, theo diéu kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dung gia đình hạnh phúc và hoà thuận ”. Khái niệm về hôn nhân mặc dù còn thé hiện những quan điểm khác nhau nhưng các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm đều xuất phát từ vị trí hôn nhân là một thiết chế xã hội: “Việc một người đàn ông và một người đàn bà cam kết sống chung với nhau với những quyên và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái. ”[39] - Đó là hôn nhân một vợ một chồng. Khái niệm Hôn nhân một vợ một chồng trong các quan điểm này đều có những đặc trưng cơ bản sau: - Hôn nhân một vợ một chồng là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà.
Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà là đặc điểm vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội. Để đảm bảo mục đích hôn nhân được thực hiện đồng thời bảo vệ yếu tố đạo đức truyền thống và tính tự nhiên trong quan hệ hôn nhân, pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều không thừa nhận việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. Bên cạnh đó, một số nước đề cao quyền tự do, bình đăng của con người, đã thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, chăng hạn như Hà Lan năm 2001, Bỉ năm 2003.năm 2014, Pháp đã thông qua đạo luật cho phép các cặp đồng giới được quyền kết hôn với nhau và được nhận con nuôi: “Ởôn nhân là sự kết hợp hop pháp giữa nam và nữ và trong một vài hệ thống pháp luật là sự kết hợp giữa hai người cùng giới” [34] Phủ nhận quan hệ hôn nhân nhiều vợ hoặc nhiều chồng trước kia, quan hệ hôn nhân dưới xã hội chủ nghĩa sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Sự liên kết này xuất phát từ bản chất tình yêu là không thể chia sẻ được cho nên hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu đòi hỏi quan hệ chung thủy giữa một vo VỚI một chồng.
Hiện nay, hầu hết pháp luật HN&GD của các trong đó có Việt Nam đều ghi nhận chế độ hôn nhân một vợ một chồng, trừ một số nước ở Châu phi, Trung cận đông, Trung Á do ảnh hưởng của tôn giáo, phong tục tập quán vẫn thừa nhận chế độ đa thế trong pháp luật. - Hôn nhân một vợ một chồng là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc tự nguyện Sự tự nguyện của các bên trong quan hệ hôn nhân là việc thể hiện ý chí ưng thuận của hai bên nam nữ trong quan hệ này. Tuy nhiên, tính tự nguyện trong hôn nhân được xem xét với nhiều quan điểm khác nhau. Đối với nhà làm luật ở một số nước phương Tây, tự nguyện ở đây thường gan với tự nguyện trong hợp đồng.