CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý bồn trũng Cửu Long Bồn trũng nằm ở tọa độ 90 – 110 vĩ Bắc, 106,50 – 1090 kinh Đông, với diện tích bề mặt khoảng 36.000 km² bao gồm các lô 09, 15, 16, 17 và một phần của các lô 01, 02, 25 và 31. Bồn trũng có dạng gần giống hình bán nguyệt, kéo dài theo phương Đông Bắc-Tây Nam với phần cung lồi hướng về phía Đông Nam, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam là đới nâng Khorat-Natuna và phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh.1: Bản đồ vị trí bồn trũng Cửu Long Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền MSHV: 1570265 Trang 17 1.
Lịch sử phát triển địa chất khu vực Lịch sử phát triển của bể Cửu Long gắn liền với quá trình tách giãn Biển Đông và có thể chia thành 03 giai đoạn phát triển kiến tạo như sau: Thời kỳ trước tạo rift: Thời kỳ trước Đệ Tam khoảng từ Jura muộn đến Paleogen là thời gian thành tạo và nâng cao của các đá móng magma xâm nhập. Do ảnh hưởng các quá trình va chạm của các mảng Ấn Độ vào mảng Âu-Á và hình thành đới hút chìm dọc cung Sunda. Các thành tạo đá xâm nhập, phun trào Mesozoi muộn-Kainozoi sớm và trầm tích cổ trước đó đã trải qua thời kỳ dài của quá trình bóc mòn, giập vỡ, khối tảng, căng giãn ở khu vực hướng Tây Bắc – Đông Nam. Sự phát triển các đai mạch lớn, kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam thuộc phức hệ Cù Mông và Phan Rang có tuổi tuyệt đối 30- 60 triệu năm đã minh chứng cho điều đó.
Đây là giai đoạn san bằng địa hình trước khi hình thành bể trầm tích Cửu Long. Địa hình bề mặt bóc mòn của móng kết tinh trong phạm vi khu vực bể lúc này không hoàn toàn bằng phẳng, có sự đan xen giữa các thung lũng và đồi, núi thấp. Chính hình thái địa hình mặt móng này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trầm tích lớp phủ kế thừa vào cuối Eocen - đầu Oligocen. Thời kỳ đồng tạo rift: Vào cuối Eocen - đầu Oligocen do tác động của các biến cố kiến tạo với hướng căng giãn chính là Tây Bắc – Đông Nam và hàng loạt các đứt gãy hướng Đông Bắc –Tây Nam đã được sinh thành do sụt lún mạnh và căng giãn.
Vào đầu Kainozoi do sự va mạnh ở góc hội tụ Tây Tạng giữa các mảng Ấn Độ và Âu-Á làm mảng Indosinia bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãy trượt bằng lớn như đứt gãy Sông Hồng, Sông Hậu, với xu thế trượt trái ở phía Bắc và trượt phải ở phía Nam tạo nên các trũng Đệ Tam trên các đới khâu ven rìa, trong đó có bể Cửu Long. Các hoạt động trên đã hình thành các hệ thống đứt gãy khác có hướng gần Đông Bắc – Tây Nam.Như vậy, trong bể Cửu Long bên cạnh hướng Đông Bắc –Tây Nam còn có các hệ thống đứt gãy có hướng cận kề chúng. Thời kỳ sau tạo rift. Vào Miocen sớm, quá trình giãn đáy Biển Đông theo phương Tây Bắc – Đông Nam đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Miocen sớm (17 triệu năm), tiếp theo là quá trình nguội lạnh vỏ.
Trong thời kỳ đầu Miocen sớm các hoạt động đứt gãy vẫn còn xảy ra yếu và chỉ chấm dứt hoàn toàn từ Miocen giữa đến hiện tại. Các Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền MSHV: 1570265 Trang 18 trầm tích của thời kỳ sau rift có đặc điểm chung là phân bố rộng, không bị biến vị, không bị uốn nếp và như gần nằm ngang. Tuy nhiên, ở bể Cửu Long các quá trình này vẫn gây ra các hoạt động tái căng giãn yếu, lún chìm từ từ trong Miocen sớm và hoạt động núi lửa ở một số nơi, đặc biệt ở phần Đông Bắc bể. Vào cuối Miocen sớm trên phần lớn diện tích bể, nóc trầm tích Miocen dưới - hệ tầng Bạch Hổ được đánh dấu bằng biến cố chìm sâu bể với sự thành tạo tầng “sét Rotalid” biển nông rộng khắp bể, đây là tầng đánh dấu địa tầng của Miocen dưới - hệ tầng Bạch Hổ và là tầng chắn khu vực quan trọng cho toàn bể.
Cuối Miocen sớm toàn bể trải qua quá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu, bằng chứng là tầng sét Rotalid chỉ bị bào mòn từng phần và chỉ duy trì tính phân bố khu vực của nó. Mặt cắt địa chất khu vực bể được chia thành ba giai đoạn hoạt động cấu kiến tạo liên quan đến ba tầng cấu trúc gồm trước tạo rift là tầng cấu trúc móng có tuổi trước Đệ Tam, đồng tạo rift hình thành tầng cấu trúc Oligocen và sau tạo rift thành tạo tầng cấu trúc Miocen – Pliocen – Đệ tứ. Tầng cấu trúc móng thể hiện cho địa hình của khu vực bể, gồm các địa hào, bán địa hào và địa lũy được tách biệt nhau bởi các hệ thống đứt gãy.Tầng cấu trúc Oligocen liên quan tới các thành tạo mang tính kế thừa.Các yếu tố cấu trúc chính hầu hết được kế thừa từ móng và xuất hiện trong Oligocen. Ảnh hưởng về mặt hình thái của bề mặt móng đối với hình thái của các trầm tích Oligocen giảm dần từ dưới lên trên dọc theo mặt cắt.
Tầng cấu trúc Miocen – Pliocen đặc trưng bởi địa hình tương đối phẳng và sự giảm đột ngột số lượng của các đứt gãy. Hệ thống đứt gãy trong bể Cửu Long chia thành 4 nhóm chính dựa trên cơ sở lịch sử hình thành gồm hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc –Tây Nam, Đông –Tây, Bắc – Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Nhìn chung hệ thống đứt gãy hướng Đông Bắc –Tây Nam phát triển sớm hơn và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bể Cửu Long; trong khi đó khu vực phía Tây Nam với hệ thống đứt gãy hướng Tây Bắc – Đông Nam và khu vực Tam Đảo, Nam Rồng – Đồi Mồi với hệ thống đứt gãy hướng Đông – Tây lại đóng vai trò quan trọng trong việc thành tạo hình thái cấu trúc bể Cửu Long. Hệ đứt gãy phương Bắc – Nam phát triển chủ yếu ở khu vực mỏ Rồng.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền MSHV: 1570265 Trang 19 Chương 2. CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở dữ liệu 2. Dữ liệu cổ sinh Trên cơ sở thống kê tài liệu phân tích cổ sinh đã thực hiện ở bồn trũng Cửu Long đến thời điểm hiện tại, đã có 90 giếng khoan được phân tích.
Trong đó 44 giếng khoan gặp bắt gặp hóa đá Ammonia ở tập sét Rotalid phân bố chủ yếu ở các lô 09-1, 09-2, 15-1, 15-2, 16-1 và một số giếng ở lô 01, 02. Lô 01 Lô 02 Lô 09 Lô 15 Lô 16, 17 01-97-HD-1XST 02-97-HT-1X 09-1-BH 18 15-1-SC-1X 16-1-NO-1X 01-97-HX-1X 02-97-AmSW-1X 09-1-BH-17 15-1-SD-1X 16-1-TGC-1X 01-97-HXS-1X 02-97-DD-1X 09-1-BH-32 15-1-SD-2X 16-1-TGD-1X 01-Emeral-1 02-97-DD-2X 09-1-BH-1032 15-1-SD-2XST 16-1-TGH-1X 01-JADE-3X 02-97-TL-1X 09-1-Rong-5 15-1-SD-3X 16-1-TGL-1X 01-MoonStone- 02-97-TL-2X 09-1-Rong-10 15-1-SD-4X 16-1-TGT-1X 1XST 01-B-1X 02-97-TL-3X 09-1-RONG-18 15-1-SD-6X 16-1-TGT-2X 01-RUBY-2X 02/10-KNV-1X 09-1-RONG-20 15-1-SD-2P 16-1-TGT-3X 01-RUBY- 3P 09-1-RONG-21 15-1-SD-9P-ST3 16-1-TGT-4X 01-RUBY-3X 09-1-RONG -22 15-1-SN-1X 16-1-TGT-5X 01-TOPAZ-3X 09-1-RONG -23 15-1-SN-2X 16-1-TGT-6X 01-TOPAZ-3XST 09-1-ThT-1X 15-1-SN-3X 16-1-TGT-7X 09-1-ThT-5X 15-1-ST-1X 16-1-TGV-1X 09-2-CNV-1X 15-1-SV-1X 16-1-TGX-1X 09-2-COD-1X 15-1-SV-2X 16-1-VN-1X 09-2.09-KTN-1X 15-1-05-LDV-4X 16-1-VT-1X 09-2/10-HC-1X 15-2-DD-1X 16-1-VT-2X 09-2/09-KNT-2X 15-2-GD-1X 16-1-VV-1X 09-3.12-CT-2X 15-2-PD-1X 16-2-BaDen-1 09-3-SOI-2X 15-2-PD-2X 16-BG-1X 15-2-RD-1X 16-2-HMX-1X 15-2-RD-2X 17-1-VT-1X 15-2-RD-3X 15-2-RD-4X 15-2-VD-1XST 15-2-HSB-1X 15-2-HSD-2X 15-2.1: Danh sách các giếng khoan phân tích cổ sinh ở bồn trũng Cửu Long Một số giếng khoan không bắt gặp tập Rotalid do nhiều yếu tố, trong đó điển hình nhất là khoảng độ sâu phân tích không nằm ngay tập Rotalid. Nhìn chung thì tổ hợp Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền MSHV: 1570265 Trang 20 Rotalia chủ yếu là các giống loài Ammonia có kích nhỏ: từ khoảng 100-350µm. Ngoài ra, trong tập còn có sự xuất hiện đồng thời của giống loài Miliammina spp (tại các giếng khoan 15-1-SD-2P, 15-1-ST-1X) và Elphidium spp (tại các giếng khoan 16-1-TGT-1X, 16-1-TGT-3X, 16-1-TGT-4X, 16-1-TGT-6X, 16-1-TGV-1X, 16-1-TGX-1X, 16-1-TGD- 1X, 15-2-PD-1X, 15-2-RD-1X, 15-1-ST-1X, 15-1-SV-1X, 09-2-COD-1X, 09-1-BH-32, 02/97-TL-1X, 02/97-AmSW-1X).
Bên cạnh đó, theo quan sát ở tập trầm tích nằm phía dưới tập Rotalid, một số giếng khoan xuất hiện nhóm hóa đá Miliammina tương ứng với môi trường thiên về lục địa hơn gồm các giếng khoan: 09-1-BH-32, 15-1-SD-1X, 15-1-SD-2X, 15-1-SD-2P, 15-1-SV-1X, 15-1-ST-1X, 15-2-RD-1X. Cơ sở dữ liệu khác Dữ liệu cyclolog Tác giả sử dụng các đường Gamma Ray tại các giếng khoan đại diện: 15-1-SD-2X, 15-1- SD-3X, 01-RUBY-2X, 15-1-ST-1X, 15-1-ST-2X, 15-2-RD-1X, 09-2-KNT-1X, 16.1- TGT-3X chạy trên phần mềm Cyclolog để liên kết tập qua các giếng khoan trong khu vực. Dữ liệu thạch học Ba mẫu tại bốn giếng khoan được đem đi phân tích XRay xác định hàm lượng và loại sét của tập nhằm xác định chính xác hơn môi trường thành tạo tập Rotalid: 09-1-BH-32, 09- 2-CNV-1X, 15-1-SD-2P, 15-2-RD-4X. Phương pháp nghiên cứu 2.
Phương pháp xác định và phân loại hóa đá: Việc xác định và phân loại hóa đá được thực hiện chủ yếu dưới kính hiển vi soi nổi. Các nhóm hóa đá có cùng đặc điểm sẽ được tập hợp lại để nhận dạng, những mẫu đại diện cho từng nhóm sẽ được tiến hành chụp ảnh dưới kính hiển vi điện tử quét để phân tích chi tiết cấu trúc bề mặt. Giúp so sánh và chính xác hóa việc xác định hóa đá. ➢ Trên kính hiển vi soi nổi Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền MSHV: 1570265 Trang 21 Tập hợp các hóa đá xuất hiện trong giếng khoan.
Dựa vào các đặc điểm như số lượng các phòng ở vòng quấn cuối cùng, rìa vỏ, đặc điểm đường khâu, đặc điểm vùng rốn vỏ để phân nhóm và nhận dạng sơ bộ hóa đá. Một số mẫu đại diện của các nhóm hóa đá đã được phân chia dưới kính hiển vi soi nổi được chọn để chụp ảnh dưới kính hiển vi điện tử quét (SEM). Với ưu thế là độ phóng đại lớn, hình ảnh thể hiện rõ các cấu trúc bề mặt vỏ hóa đá.Cho nên giúp phân biệt hóa đá chính xác hơn. ➢ Kính hiển vi điện tử quét Để chụp ảnh SEM hóa đá Ammonia tương đối khó khăn và phức tạp do kích thước hóa đá rất nhỏ.
Nên việc gia công mẫu gặp rất nhiều khó khăn. Việc gia công thực hiện theo trình tự các bước như sau: Bước 1: Chuẩn bị mẫu Chuẩn bị mẫu cần làm, đánh dấu và sắp xếp theo số thứ tự để tránh nhầm lẫn. Bước 2: Cố định mẫu Dùng keo cacbon phủ lên trên bề mặt của đế mẫu một lớp keo mỏng. Dùng kẹp gắp mẫu để gắp mẫu đã được chuẩn bị gắn lên lớp keo đã được phủ trên đế mẫu.
Chú ý phải gắn mẫu nhanh để tránh lớp keo bị khô không kết dính được với đế mẫu. Chú ý trước khi cố định mẫu bằng keo cần phải xác định bề mặt mẫu muốn quan sát chi tiết. Ghi lại vị trí mẫu.