Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trong chương này, luận án sẽ trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, cũng trình bày rõ những đóng góp mới của luận án cả về mặt khoa học và mặt thực tiễn. Chương 2: Tổng quan về phát triển ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, lạm phát và các nghiên cứu trước liên quan. Trong chương 2, luận án hệ thống các khái niệm để giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong luận án.
Đồng thời trình bày khung lý thuyết nền tảng giải thích về mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ song phương giữa phát triển ngân hàng với độ mở thương mại, giữa phát triển ngân hàng với lạm phát, giữa tăng trưởng kinh tế với độ mở thương mại, giữa tăng trưởng kinh tế với lạm phát. Từ đó làm cơ sở để giải thích mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế trong điều kiện độ mở thương mại và lạm phát tại Việt Nam, Đồng thời, luận án cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan đến vấn đề 7 nghiên cứu của luận án. Từ đó chỉ ra khoảng trống trong nghiên cứu của luận án. Từ khoảng trống nghiên cứu, luận án xây dựng các mục tiêu chính và mục tiêu cụ thể để từng bước làm rõ vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu của chương 2, trong chương 3 luận án sẽ lựa chọn mô hình nghiên cứu và biện luận để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp đồng thời xây dựng các giả thuyết nghiên cứu trong mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, chương 2 cũng mô tả dữ liệu nghiên cứu, lý do lựa chọn thời gian nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương 4, luận án sẽ trình bày thực trạng và kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu. Từ đó, thực hiện thảo luận các kết quả nghiên cứu, làm cơ sở đề đề xuất các hàm ý chính sách ở chương 5.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trong chương 5, trên cơ sở thảo luận các kết quả ước lượng từ chương 4, luận án sẽ đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI, LẠM PHÁT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN 2.1 Khung khái niệm 2.1 Phát triển ngân hàng Greenwood và Jovanovic (1990) và Bencivenga và Smith (1991) nhấn mạnh rằng phát triển tài chính bao gồm cả phát triển khu vực ngân hàng và phát triển thị trường chứng khoán là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy, hai bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính đó là thị trường tài chính và ngân hàng (Mankiw và Ball, 2011). Mặt khác, theo Ang (2008a), phát triển tài chính có thể được hiểu là phát triển khu vực ngân hàng và/hoặc phát triển thị trường chứng khoán.
Do đó, luận án sẽ trình bày phát triển ngân hàng dựa trên hướng tiếp cận phát triển tài chính.1 Khái niệm về phát triển ngân hàng Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển ngân hàng do có nhiều hướng tiếp cận về phát triển ngân hàng khác nhau. Cụ thể như sau: Theo Rudar (2014), phát triển ngân hàng được định nghĩa là một quá trình cải tiến về số lượng, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng. Hay nói cách khác, phát triển ngành ngân hàng là một quá trình đánh dấu sự cải thiện về số lượng, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng có liên quan đến thu nhập quốc dân (GDP). Mihail (2014), phát triển ngân hàng là một khái niệm phức tạp nên để xét phát triển ngân hàng thì xét trong mối tương quan đóng góp nhiều nhất với sự tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, theo ông phát triển ngân hàng là các biện pháp của hoạt động ngân hàng, quy mô ngân hàng và hiệu quả ngân hàng gắn với trưởng kinh tế. Levine (2005), phát triển ngân hàng là sự cải thiện của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện các chức năng bao gồm: Tích lũy tiết kiệm; Phân bổ vốn cho đầu tư sản xuất; Giám sát các khoản đầu tư; Phân tán rủi ro và trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Hartmann (2007), phát triển ngân hàng là một quá trình đổi mới, cải thiện về thể chế và tổ chức trong hệ thống làm giảm thông tin bất đối xứng và tăng khả năng ký kết hợp đồng, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng cạnh tranh. Theo luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010), ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng 9 bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu phát triển ngân hàng ở góc độ ngân hàng thương mại mà ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam nhằm mục tiêu lợi nhuận (Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam). Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận về định nghĩa phát triển ngân hàng trên, chúng ta có thể hiểu phát triển ngân hàng là các biện pháp để cải thiện về quy mô và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận nhưng gắn với tăng trưởng kinh tế.2 Đo lường phát triển ngân hàng Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (2016), đo lường sự phát triển của trung gian tài chính thông qua ba chỉ tiêu đó là chỉ tiêu đo lường về độ sâu tài chính, chỉ tiêu đo lường về khả năng tiếp cận tài chính và chỉ tiêu đo lường về hiệu quả tài chính. Trong khi đó, đo lường sự phát triển trung gian tài chính được Ngân hàng thế giới (2018) bổ sung thêm một chỉ tiêu nữa bên cạnh bộ chỉ tiêu đo lường của Quỹ tiền tệ quốc tế (2016) đó là chỉ tiêu đo lường về tính ổn định của trung gian tài chính.
Đo lường phát triển ngân hàng theo độ sâu tài chính (Depth) Độ sâu phản ánh quy mô và khả năng thanh khoản của ngành ngân hàng trong nền kinh tế và được so sánh với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chỉ số đại diện đo lường độ sâu tài chính của hệ thống ngân hàng được sử dụng là: Tỷ lệ tín dụng trong nước của khu vực tư nhân so với GDP (Private Sector Credit to GDP): Chỉ số này phản ánh mức vốn tín dụng do ngân hàng thương mại cho vay đối với các cá nhân, doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân để phục vụ cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống nên chỉ số này khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Chỉ số này có tương quan mạnh mẽ với mức thu nhập của của quốc gia và có mối tương quan với tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, chỉ số này cũng phản ánh hiệu quả của việc sử dụng lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế được huy động dưới dạng tiền gửi tại ngân hàng thương mại để cho vay Đo lường phát triển ngân hàng theo khả năng tiếp cận tài chính (Access) Khả năng tiếp cận tài chính phản ánh khả năng mà các cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngành ngân hàng để từ đó có thể 10 tận dụng các cơ hội kinh doanh, đầu tư, tiết kiệm.
Nếu những lợi ích có được từ việc phát triển ngân hàng không lan truyền đủ rộng rãi trong dân cư và các thành phần kinh tế thì sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế cũng như những rủi ro tiềm ẩn đối với sự phát triển ngân hàng của một quốc gia nếu như các tài sản tài chính tập trung ít hoặc rất ít trong dân cư và các doanh nghiệp của quốc gia đó. Khả năng tiếp cận tài chính có thể là việc sử dụng hoặc truy cập các sản phẩm dịch vụ ngân hàng một cách trực tiếp hay gián tiếp. Chỉ số đại diện đo lường khả năng tiếp cận tài chính thường được sử dụng là Số lượng chi nhánh ngân hàng thương mại trên 100.000 người trưởng thành Branches per 100,000 adults (commercial banks): Chỉ số này phản ánh khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ ngân hàng một cách thuận lợi nhanh chóng của người dân trong nền kinh tế. Một nền kinh tế có hệ thống ngân hàng phát triển thì khoảng cách vị trí tại nơi người dân sinh sống đến tại chi nhánh ngân hàng thương mại càng được thu hẹp lại.
Chỉ số này phản ánh việc tiếp cận tài chính có thể mở rộng cơ hội cho tất cả mọi người với mức độ truy cập và sử dụng dịch vụ ngân hàng cao hơn, thuận lợi hơn mọi lúc mọi nơi. Đo lường phát triển ngân hàng theo hướng hiệu quả (Efficiency) Hiệu quả tài chính phản ánh khả năng hệ thống ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ tài chính với chi phí thấp nhưng vẫn đạt được mức thu nhập bền vững cũng như quy mô hoạt của ngân hàng. Chỉ số này được các nhà phân tích đánh giá khả năng sử dụng tài sản để tạo thành thu nhập của ngân hàng. Chỉ số đại diện đo lường hiệu quả tài chính của ngân hàng thường được sử dụng là Biên độ chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và tiền vay (Lending-deposits spread): chỉ số này phản ánh mức chênh lệch lãi suất giữa hoạt động tín dụng và hoạt động huy động vốn mà ngân hàng thương mại được hưởng.
Chỉ số này còn được gọi là chênh lệch lãi ròng, mức chênh lệch lãi ròng càng cao thì ngân hàng thương mại càng có lời và ngược lại, mức chênh lệch lãi ròng thấp thì mức lợi nhuận được hưởng giảm đi. Tùy thuộc vào mỗi chu kỳ tín dụng và các chính sách điều tiết của Ngân hàng nhà nước hoặc chính sách cho vay của từng ngân hàng mà biên độ chênh lệch lãi suất tiền gửi tiền vay sẽ khác nhau giữa các thời kỳ và giữa các ngân hàng.