đặt vấn đề rằng một phán quyết từ Tòa án luật tục có thể được coi là có giá trị như một bản án thông thường đồng thời chính là một bản ghi chép lại sự tồn tại của luật tục được thừa nhận chính thức. Tác giả cho rằng luật tục cần được coi là một loại án lệ, được ràng buộc và có giá trị bắt buộc cho đến khi nó được chuyển hóa vào luật hoặc được sửa đổi bởi một quyết định nghiêm túc, rõ ràng sau đó [130]. Dưới góc độ thực tiễn, sách “Decentralization and Adat Revivalism in Indonesia The Politics of Becoming Indigenous” của tác giả Adam D. Tyson (2010) đã phân tích xu hướng lập pháp mang tính chính trị gay gắt tại Indonesia liên quan đến thừa nhận vị trí của pháp luật với Adat- luật tục bản địa của Indonesia.
Thông qua việc phân tích các giai đoạn liên quan trong lịch sử của Indonesia, tác giả xem xét các cuộc đấu tranh để yêu cầu công nhận Adat của các cộng đồng dân tộc bản địa Indonesia, chủ yếu liên quan đến tranh chấp đất đai, quản lý tự trị và xung đột trong khai thác tài nguyên, tái tạo bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số nước này[143]. Cùng hướng nghiên cứu trên nhưng chỉ triển khai trên phạm vi hẹp, tác giả Roberth Kurniawan Ruslak Hammar (2018) với bài “The Existence of Customary Rights of Customary Law Community and Its Regulation in the Era of Special Autonomy of Papua” đăng trên Journal of Social Studies Education Research [124]. Nghiên cứu này được thực hiện ở Manokwari, Indonesia với 52 người DTTS cho thấy, luật tục đã được bảo vệ và công nhận trong cộng đồng DTTS thông qua Hiến pháp Indonesia năm 1945, một văn bản luật riêng năm 2001 và 2008 dành cho những đặc khu DTTS tại đây. Các cộng đồng được quyền sở hữu và sử dụng các luật tục của mình trong giải quyết các vấn đề nội bộ địa phương.
14 luan an Nhiều bài báo khác liên quan đến chủ đề này có thể kể đến như David Henley và Jamie S. Davidson (2008) với nghiên cứu “In the Name of Adat: Regional Perspectives on Reform, Tradition, and Democracy in Indonesia”, Modern Asian Studies , Volume 42 , Issue 4 , July 2008 , pp. 815 – 852; hai tác giả Kamarusdiana Kamarusdiana, Mustapa Khamal Rokan (2018) với bài “Configuration of Customary Law Related to Economy (Economic Adat Law Study in North Sumatera, Indonesia)”, Vol 18, No 2 (2018) Kamarusdiana; tác giả Najmu L. Sopian (2015) với bài “Informal Dispute Resolution Based On Adat Law: A case Study of Land Dispute in Florest, East Nusa Tenggara, Indonesia”, Volume 5 Number 2, May - August 2015, Indonesia Law Review.
Các nghiên cứu này nghiên cứu về luật tục chủ yếu liên quan đến vấn đề văn hóa, hôn nhân và đất đai trong cộng đồng các DTTS tại Indonesia. Với luật tục (Adat) ở Malaysia, có thể kể đến luận án “Native title in Sarawak, Malaysia: Kelabit land rights in transition” Ramy Bulan (2005), The Australian National University và được chuyển hóa thành sách “Legal perspectives on native Customary land rights in Sarawak” năm 2008. Luận án chỉ ra rằng luật tục liên quan đến vấn đề đất đai của cộng đồng DTTS đã được thừa nhận trên nguyên tắc luật tục là một phần của pháp luật Malaysia theo Hiến pháp liên bang. Hiệu quả của luật tục phụ thuộc vào sự chấp nhận phổ biến của nó trong cộng đồng, áp lực của dư luận và thái độ chung đối với một người vi phạm các chuẩn mực đã được chấp nhận và tính dễ bị tổn thương của cá nhân đối với cảm giác được tôn trọng của con người.
Để luật tục được công nhận là luật thì phải đáp ứng 4 điều kiện đó là: (i) phải có lịch sử hình thành lâu đời; (ii) nó phải được áp dụng liên tục và không bị phá vỡ hoặc gián đoạn từ đời này sang đời khác; (iii) phải được tôn trọng và tuân thủ; (iv) được áp dụng để xét xử cho cá nhân nào vi phạm quy định của luật tục. Tác giả cũng đề xuất việc thu hồi đất đang được sở hữu theo luật tục cũng cần được đền bù thỏa đáng theo luật tục. Cùng hướng nghiên cứu này có tác giả Richard Nyaru Anak Jawa (2015) với luận án “The 15 luan an study of Customary rights in Malaysian land Administration system and Domain model”. Tác giả so sánh luật tục về đất đai giữa hai khu vực của người dân tộc bản địa, từ đó đề xuất việc xây dựng một mô hình quản lý hành chính phù hợp để quản lý đất đai trên cơ sở nguyên tắc áp dụng, phân định ranh giới đất theo luật tục.
Cùng quan tâm đến lĩnh vực Luật Hiến pháp, Katrina Cuskelly (2011) trong báo cáo “Customs and Constitutions: State recognition of customary law around the world” đã đánh giá tầm quan trọng của luật tục tại nhiều quốc gia ngày càng tăng nhất là trong vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nhưng việc nhà nước công nhận luật tục thì còn rất hạn chế, thậm chí ngay cả những nơi được công nhận thì thường có mâu thuẫn giữa các chế định pháp luật với luật tục. Tác giả đã phân tích việc thừa nhận luật tục trong Hiến pháp các nước như Fiji, Slovenia, Belarrus, Armenia, Kazakhstan, Ukraina, Liên bang Nga …. Từ đó đánh giá, bằng cách xây dựng nguyên tắc trong Hiến pháp sau đó là một văn bản luật riêng cho việc thừa nhận và áp dụng luật tục là phương thức khá hợp lý mà nhiều quốc gia đang áp dụng. Hay tác giả Andrew Harding (2022) trong bài “Malaysia: Religious Pluralism and the Constitution in a Contested Polity”, Middle East Law and Governance 4 (2012) 356–385.
Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật của Malaysia, từ đó chỉ ra nguyên nhân mà Hồi giáo đã tác động được vào hệ thống pháp luật của Malaysia thông qua các luật tục mang màu sắc tôn giáo. Không chỉ ở Châu Á, Châu Phi cũng là một trong những khu vực mà các dân tộc thiểu số (thổ dân) ở đây có hệ thống luật tục đa dạng, phong phú. Thậm chí, luật tục đã được giảng dạy như một môn học tại Khoa Luật, Đại học Addis Ababa và Đại học Mekelle. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến là: Cuốn giáo trình “Customary Law” của hai giảng viên Muradu Abdo và Gebreyesus Abegaz (2009), System Research Institute.
Giáo trình gồm 4 phần 16 luan an lớn: các khái niệm cơ bản; Luật tục ở Châu Phi; Tổng quan về các thể chế pháp lý truyền thống ở Ethiopia và Đa nguyên pháp lý. Đây là cuốn giáo trình hệ thống khá đầy đủ các luật tục Châu Phi cũng như cơ chế giải quyết quan hệ giữa pháp luật và luật tục theo thuyết “đa nguyên pháp lý”[90]. Tác giả Jan Arno Hessbruegge với nghiên cứu “Customary Law and Authority in a State under Construction: The Case of South Sudan”, African Journal of Legal Studies 5 (2012) 295–311, tác giả khẳng định người dân tại Nam Sudan dựa nhiều hơn vào luật tục và chính quyền địa phương để điều chỉnh các xung đột của họ hơn là dựa vào các thể chế nhà nước dân sự và luật định, nhiều quan điểm cũng đề xuất pháp điển hóa luật tục thành luật chung cho Nam Sudan. Tác giả cũng đánh giá việc thừa nhận luật tục là một phần thiết yếu của cấu trúc quản trị, cùng với sự tham gia và cải cách có mục tiêu, là những yếu tố không thể thiếu trong xây dựng nhà nước và hòa bình ở Nam Sudan.
Những bài nghiên cứu khác về luật tục Châu Phi khá đa dạng, có thể kể đến là: tác giả Muna Ndulo (2011) với bài “African Customary Law, Customs, and Women's Rights”, Indiana Journal of Global Legal Studies,Vol. 87-120 nhìn nhận luật tục với quyền của phụ nữ, trẻ em gái Châu Phi; tác giả Harald Sippel (2022) với nghiên cứu “Customary Law in Colonial East Africa”, Oxford University Press; tác giả JeanMarie Fenrich và cộng sự với nghiên cứu “The Future of African Customary Law”, Cambridge University Press, các nghiên cứu này khái quát, đánh giá luật tục của một số nước Châu Phi cũng như triển vọng của luật tục trong xã hội hiện đại. Tại Việt Nam, nhiều cuộc Hội thảo khoa học đã được tổ chức hướng tới mục đích nghiên cứu luật tục trong nhiều lĩnh vực khác nhau và các Kỷ yếu, tập san của Hội thảo trở thành nhưng tư liệu quý giá ban đầu cho việc nghiên cứu luật tục các dân tộc thiểu số một cách hệ thống, chuyên sâu. Trong năm 1997, Bộ Tư pháp phối hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức hội thảo khoa học về “Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành” và được 17 luan an tác giả Nguyễn Văn Thảo, Viện Khoa học pháp lý tập hợp, biên soạn một số bài tham luận của các Sở Tư pháp khu vực Tây Nguyên thành Đặc san Luật tục [43].
Hội thảo tập trung đánh giá thực trạng luật tục, hương ước đang tồn tại ở các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung, so sánh đối chiếu các quy định của luật tục, hương ước với quy định của pháp luật hiện hành trong một số lĩnh vực như dân sự, hôn nhân gia đình, hình sự, hành chính, kiến nghị các giải pháp thích hợp để định hướng được nội dung của luật tục, hương ước theo hướng khơi trong gạn đục, phát huy thuần phong mỹ tục và các hình thức tự quản truyền thống ở cơ sở theo đường lối mà Đảng ta đã đề ra. Năm 1999, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã kết hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế: Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam với sự tài trợ của quỹ Ford. Kỷ yếu của Hội thảo này đã được biên soạn thành sách “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” ấn hành năm 2000[70]. Cuốn sách là tập hợp các bài tham luận của các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế, các nhà quản lý địa phương trong Hội thảo khoa học quốc tế nêu trên.
Cuốn sách là một công trình tập trung vào luật tục của một số dân tộc, một số vùng đặc biệt là khu vực Tây Nguyên với bốn phần chính: Phần I nêu lên các vấn đề chung về luật tục như khái niệm, các hình thức tồn tại đa dạng của luật tục ở Việt Nam, các quan niệm lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về luật tục; Phần II có nội dung về Luật tục và vấn đề bảo tồn, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tập trung vào việc bảo vệ, khai thác, quản lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, môi trường trong luật tục các dân tộc miền núi; Phần III là nội dung Luật tục với cần đề quản lý xã hội và văn hóa, nghiên cứu trong nội dung của luật tục các dân tộc thiểu số và Hương ước của người Việt.