Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, và câu hỏi nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Các nội dung chính của chương này, tác giả đề cập đến những lý thuyết cơ bản của cấu trúc vốn, lý thuyết cơ bản của thị trường. Tiếp theo đó, tác giả trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm trước làm cơ sở tham khảo cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Dựa vào các lý thuyết nền tảng đã trình bày ở chương hai, chương này sẽ tập trung vào xây dựng mô hình, trình bày cách xác định, tính toán các biến trong nghiên cứu. Bên cạnh đó, trong chương này tác giả còn đề cập đến cách thu thập, xử lý các số liệu dùng trong nghiên cứu, các bước thực hiện hồi quy và các kiểm định cần thiết cho mô hình. Chương 4: Kết quả và thảo luận.
Phần này, tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan, nhận xét, phân tích và thảo luận về mối quan hệ giữa lợi nhuận bất thường tích lũy với tỷ số đòn cân nợ, với các biến kiểm soát rủi ro (P/E, P/B, Size, Beta) và kết quả hồi quy. Chương 5: Kết luận. Trong chương cuối cùng này, tác giả sẽ tóm tắt các kết quả đạt được từ nghiên cứu. Đồng thời, đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị cho các công ty, nhà đầu tư và các tổ chức cá nhân có liên quan.
Tiếp đến, sẽ trình bày phần hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. HV: Nguyễn Thị Lan Phương Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận, cùng với kết quả tóm lược của các nghiên cứu thực nghiệm trước sẽ được trình bày. Bố cục chương hai, gồm các phần sau: Lý thuyết về cấu trúc vốn Lý thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết tài chính hành vi Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư Các nghiên cứu trước 2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn Việc nghiên cứu các lý thuyết về cơ cấu vốn, sẽ góp phần giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận bất thường tích lũy. Trong phần này, nghiên cứu đề cập đến ba lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại, bao gồm: lý thuyết Modigliani – Miller, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng.1 Lý thuyết Modigliani – Miller ( lý thuyết M&M) Khái niệm về lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại được bắt đầu từ nghiên cứu đầu tiên của Modiglinani và Miller năm 1958 (gọi tắt là lý thuyết M&M).
Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra những giả định như sau: thị trường hoàn hảo (tức là thông tin cân xứng, không có chi phí giao dịch, không có thuế thu nhập cá nhân, lãi suất vay và cho vay như nhau, cơ hội tiếp cận vốn như nhau), không có chi phí phá sản, chi phí khó khăn tài chính, toàn bộ lợi nhuận được chia cho chủ sở hữu (không có tái đầu tư, không có tăng trưởng). Modigliani và Miller đưa ra hai mệnh đề về giá trị công ty và chi phí sử dụng vốn, cùng xem xét chúng trong hai trường hợp có thuế và không có thuế. Đối với trường hợp không có thuế và rủi ro được tính toán hoàn toàn bằng tính không ổn định của các dòng tiền (bỏ qua khả năng các dòng tiền có thể dừng vì vỡ nợ), giá trị công ty có vay nợ và giá trị công ty không có vay nợ là như nhau với phương trình như sau: HV: Nguyễn Thị Lan Phương Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết V L = VU Trong đó: VL: Tổng giá trị của công ty sử dụng nợ VU: Tổng giá trị công ty không sử dụng nợ Do vậy, giá trị công ty không thay đổi khi cơ cấu vốn thay đổi. Hay nói cách khác, việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi ích gì cho cổ đông.
Đây là nội dung của mệnh đề M&M số I. Mệnh đề M&M số II phát biểu rằng lợi nhuận yêu cầu trên mỗi cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ, được biểu diễn theo công thức sau: = +( − ) Trong đó: là lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần là lãi suất hay chi phí sử dụng nợ là chi phí sử dụng vốn khi công ty sử dụng 100% vốn cổ phần là giá trị của nợ hay trái phiếu công ty phát hành là giá trị vốn cổ phần của công ty. Vì vậy nếu thị trường vốn hoàn hảo, trong điều kện không có thuế thu nhập doanh nghiệp, MM cho thấy rằng các doanh nghiệp có cùng điều kiện kinh doanh và kỳ vọng lợi nhuận hàng năm giống nhau thì sẽ có tổng giá trị giống nhau cho dù cấu trúc vốn là như thế nào. Bởi vì giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào cách thức cấp vốn.
Từ đó, có thể rút ra kết luận rằng tất cả các công ty có lợi nhuận kỳ vọng giống nhau và giá trị giống nhau không phụ thuộc vào việc có sử dụng nợ hay không sử dụng nợ. Trong trường hợp có thuế, mệnh đề M&M số I được phát biểu rằng giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ với hiện giá của lá chắn thuế, được diễn tả bởi công thức sau: HV: Nguyễn Thị Lan Phương Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết VL = VU + TCD Trong đó: VL: Tổng giá trị của công ty sử dụng nợ VU: Tổng giá trị công ty không sử dụng nợ TC: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D: Tổng số nợ sử dụng. Như vậy, việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị công ty. Hay nói cách khác, công ty vay nợ càng nhiều thì giá trị công ty càng gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ.
Mệnh đề M&M số II trong trường hợp này cho rằng lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ và được biểu hiện như sau: = +( − ) (1− ) Trong đó: là lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần là lãi suất hay chi phí sử dụng nợ là chi phí sử dụng vốn khi công ty sử dụng 100% vốn cổ phần là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là giá trị của nợ hay trái phiếu công ty phát hành là giá trị vốn cổ phần của công ty. Tóm lại, lý thuyết M&M cho rằng trong thị trường vốn là hoàn hảo và bỏ qua chi phí thuế thu nhập thì giá trị công ty có vay nợ và giá trị công ty không vay nợ là như nhau tức là cơ cấu vốn không tác động lên giá trị công ty nên không có một cơ cấu vốn nào gọi là tối ưu và công ty cũng không thể nâng cao giá trị của mình bằng cách thay đổi cơ cấu vốn. Còn đối với công ty hoạt động trong môi trường có thuế, giá trị công ty có vay nợ HV: Nguyễn Thị Lan Phương Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với lá chắn thuế vì lãi vay tiết kiệm được thuế, tức là việc sử dụng nợ có tác động đến giá trị công ty. Tuy nhiên, thực tế thị trường không hoàn hảo, nên những giả định của các tác giả đặt ra là không phù hợp.
Thị trường luôn tồn tại chi phí giao dịch, và chi phí sử dụng vốn và nợ. Lý thuyết M&M chưa xem xét đến tác động của một số chi phí khác khiến cho lợi ích từ lá chắn thuế bị suy giảm và đi đến triệt tiêu khi công ty tiếp tục gia tăng tỷ số nợ. Đó chính là chi phí khó khăn tài chính. Như vậy, xem xét chi phí khó khăn tài chính để xác định mức tối ưu nợ trên vốn chủ sở hữu là cần thiết.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The trade-off theory of capital structure) Khác với lý thuyết M&M cho rằng công ty có thể được tài trợ hoàn toàn bằng vay nợ để tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông.
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn thì lại cho rằng công ty nên duy trì tỷ lệ nợ đúng mức mới có thể đảm bảo giá trị và lợi nhuận cho cổ đông. Lý thuyết đánh đổi được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973). Lý thuyết cho rằng các công ty luôn tìm kiếm và duy trì cấu trúc vốn mục tiêu thông qua việc cân bằng lợi ích và chi phí của nợ. Lợi ích ở đây bao gồm lá chắn thuế, trong khi chi phí gồm chi phí khó khăn tài chính.
Các tác giả cũng cho thấy rằng lợi ích từ lá chắn thuế được bù trừ bằng chi phí khó khăn tài chính. Tuy nhiên, lá chắn thuế có thể quan sát được, nhưng chi phí khó khăn tài chính thì khó quan sát. Vì thế, xét về góc độ an toàn, doanh nghiệp duy trì một tỷ lệ nợ an toàn trước khi nghĩ đến việc nhận được lợi ích từ lá chắn thuế. Như vậy, theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn sẽ làm cho các nhà quản trị phải cân nhắc sự đánh đổi giữa lợi ích của lá chắn thuế và chi phí khó khăn tài chính trong việc lựa chọn một tỷ lệ tài trợ bằng nợ hợp lý.
Lý thuyết đánh đổi nhìn chung thừa nhận rằng một sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ sẽ tạo nên một cấu trúc vốn tối ưu cho công ty. Hơn nữa, cấu trúc vốn của doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của hai nhân tố là thuế và chi phí khó khăn tài chính. Rất nhiều các nghiên cứu về cấu trúc vốn mong muốn tìm được đâu là giới hạn được chấp nhận của sự đánh đổi giữa lợi ích của lá chắn thuế và chi phí khó khăn tài chính. Tuy nhiên, việc tìm ra một công thức nhất định để xác định cấu trúc vốn là rất khó khăn.
HV: Nguyễn Thị Lan Phương Trang 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các công ty. Các công ty có lợi nhuận với nhiều tài sản hữu hình, có khoản lá chắn thuế cao hơn thì sẽ có tỷ lệ nợ cao hơn. Ngược lại, các công ty có khả năng sinh lời thấp và có tỷ trọng tài sản hữu hình thấp, nhiều rủi ro hơn nên chủ yếu sử dụng tài trợ bằng vốn cổ phần.