CHƯƠNG 1.1 Vật liệu khung hữu cơ-kim loại (MOF) 1.1 Giới thiệu về vật liệu khung hữu cơ-kim loại Trong khoa học và kỹ thuật ngày nay, các loại vật liệu ran đóng một vai trò tương đối quan trọng. Việc ra đời các loại vật liệu này với những đặc tính ưu việt như độ xốp lớn, độ bền hóa và cơ học tốt. giúp cho việc sử dụng rộng rãi những loại vật liệu này trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu sử dụng vật liệu răn làm xúc tác dị thé dé thay thế hoàn toàn xúc tác đồng thể luôn là mục tiêu của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tông hợp hữu cơ.
Việc nay tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tách, tinh chế sản phẩm, cũng như tận dụng khả năng thu hồi và tái sử dụng xúc tác góp phần “xanh hóa” lĩnh vực công nghệ hóa học. Tuy nhiên, tồn tại không ít những nhược điểm trong các loại vật liệu rắn truyền thống như: điều kiện tổng hop phức tạp, kém đa dạng, khó đáp ứng với nhiều yeu cầu ứng dụng đồng thời. Mặt khác, vật liệu ran làm xúc tác dị thé luôn gặp phải trở ngại lớn về mặt truyền khối, do sự hạn chế vẻ diện tích tiếp xúc va sự phân bố các tâm hoạt động. Đó là cơ sở để ra đời một loại vật liệu có thể đáp ứng được những yêu cầu này, chính là vật liệu khung hữu cơ — kim loại MOF (metal-organic frameworK){ TL].
Bat đầu từ ý tưởng của tác giả Robson và cộng sự, vào khoảng năm 1990, nhóm nghiên cứu của tác giả Omar M. Yaghi, tác giả Michael O’Keeffe và các đồng sự đã phát triển những ý tưởng về loại vật liệu MOF này, đặc biệt là ý tưởng về tong hop dựa trên sự tương tự về cau trúc [2,3]. Từ ý tưởng này ma số lượng cau trúc MOF ngày cảng tang từ năm 1970 đến nay tăng lên một cách rõ rệt, đến nay là hơn 6000 cấu trúc (Hình 1). Những cau trúc này cho thay khả năng đáp ứng linh hoạt trong nhiều ứng dụng khác nhau [4.
Với sự kết hợp những ưu điểm của cả vật liệu xốp vô cơ và hữu cơ truyền thống, vật liệu MOF không chi thé hiện sự ưu điểm trong lĩnh vực hấp phụ khí vì có độ xốp cao và diện tích bề mặt riêng lớn [6-8], ma còn chứng minh được khả năng ứng dụng cao trong lĩnh vực xúc tac [9]. Do đó, trong khoảng một thap k trở lại day, MOF trở thành dé tài nghiên cứu thu hút được nhiều sự chú ý trong lĩnh vực xúc tác. Luận văn Thạc sĩ 7000 ® Total (CSD) m Extended (1D, 2D, 3D) el A MOFs (3D) 6000|- = © 40 | Doubling time Pa] 9.3 years @ 5000;- S 2 8 °@ 7 = 7) = w= 6 © O = ÿ 4000 — ö 4 S L_ = g “2 = 3000 [o) ok | | ! | | | | fe) 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 = 2000 |- east 1000 Ƒ— 0 a ed er es e mmr N xế O©O DON x OF DTW AT OF œ FO AN TT CO œ O ~- hé hè k © DO Œœ œ œ ƠG GƠG ƠÔ GƠÔ OƠ© CC CC 0 0 CC => ẳ® Gì Ơœ Ơ Ơ © ƠŒœ Ơ Ơ Ơ Ơ Ơ Ơ © OG CC CC CC CC CC ^= .— 1T Am ^c ` `" = 3= aS loc acc SỐ Ca oi Top ID GS Year Hình 1-1. Số lượng cau trúc vật liệu MOF được công bố ở cơ sở đữ liệu câu trúc Cambridge (CSD) từ 1971 đên 2011 [1] 1.2 Cau trúc vật liệu MOF Về cơ ban, MOF là một vật liệu thuộc họ polymer.
Tuy nhiên, khác với nhiều loại polymer hữu cơ khác, MOF là loại vật liệu polymer đa chiều có cấu trúc trật tự theo cả 3 chiều không gian. Điều này chủ yếu được dựa trên những liên kết cho nhận giữa các ion kim loại hoặc nhóm nguyên tử có tâm là ion kim loại năm ở nút mạng với cầu nối là các phân tử hữu cơ. Những liên kết cho nhận này được hình thành từ các ion kim loại chuyển tiếp như: Cu, Zn, Fe, Ni, Co, Mn., và các cầu nối hữu cơ có chứa những nguyên tố phi kim giàu điện tử như: O, S, P,N [10]. Chính vì sự tô hợp linh động này, ma MOF có khả năng điều chỉnh được kích thước lễ xốp, cũng như cấu trúc hình học thông qua sự thay doi đơn giản của độ dai của phân tử hữu cơ, nhóm chức, hay thay đối các kim loại tại vị trí các nút mạng.
Luận văn Thạc sĩ organic linkers mefal ion or cluster Hình 1-2. Câu trúc cơ bản của MOF [11] 1.3 Tiềm năng làm xúc tác của vật liệu MOF Một trong những thuận lợi chính của việc su dụng vật liệu MOF trong lĩnh vực xúc tác là hàm lượng tâm kim loại trong cấu trúc MOF đặc biệt cao hon so với các xúc tác ran truyền thong khác như zeolite hay silica. Điều nay làm cho chi phí xúc tác được giảm bớt, trong khi hiệu quả xúc tác lại cao (tính băng TON — turnover number hoặc TOF — turnover frequency). Không những vậy, các tâm kim loại này, còn được cố định bang cac liên kết hóa học tương đối mạnh trong mang tinh thé theo ba chiều trong không gian nên rất khó bị leaching ra khỏi mạng tỉnh thể [9].
Điều này hết sức có ý nghĩa trong việc tỉnh chế san phẩm, cũng như tách và thu hồi xúc tác [12-15]. Một trong những điều can lưu ý của việc sử dụng MOF lam xúc tác ran là đặc tinh diện tích bề mặt cao của vật liệu này, khắc phục đáng kế nhược điểm về mặt truyền khối so với các xúc tác dị thể truyền thống khác [16]. Hơn nữa, tâm kim loại và nhóm chức trên các cầu nối định hình cau trúc có khả năng điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với các mục đích sử dụng khác nhau trong xúc tac [10]. Bên cạnh những ưu điểm đó, kha năng kết hợp các nhóm chức năng vào MOF là một trong những đặc điểm nổi bat giup cau trúc vật liệu có khả năng đa dạng hóa [17].
Điều kiện êm dịu thường được sử dụng cho quá trình tổng hợp vật liệu khung cơ kim làm cho nó có thể trực tiếp gắn các nhóm chức khác nhau vào cấu trúc khung [18-22]. Điều Luận văn Thạc sĩ này ho trợ rat đáng kê cho việc cô định va tận dụng hiệu quả các tâm kim loại quý, hiểm như Pd, Pt, Au; cũng như có thê thay đôi cau trúc của câu nôi hữu cơ dé tan dụng các nhóm base hữu cơ làm xúc tác. Các phương pháp biến đồi cau trúc MOF [17] Vật liệu khung cơ kim được ứng dụng nhiều trong các phản ứng ở pha lỏng như một xúc tác dị thé khi mà nó sở hữu các tâm hoạt động như xúc tác đồng thé và kha năng dễ tách loại cũng như tái sử dụng của xúc tác dị thể. Đặc biệt, vật liệu khung cơ kim với môi trường các chất hữu cơ được tạo ra nhờ bộ khung thường giúp cho các tâm kim loại hoạt động hành xử theo cách gợi nhớ của enzim [23].
Tuy nhiên, khi so với các loại vật liệu vô cơ khác — thường được sử dụng cho các phản ứng trong pha khí, MOF có độ bên nhiệt kém hơn chút ít, thường không vượt quá 300 °C. Tuy nhiên, một họ vật liệu khác cũng thuộc nhóm khung hữu cơ-kim loại là các vật liệu thuộc nhóm imidazolate có cau trúc giống zeolite (ZIF — zeolitic imidazolate frameworks) lại có độ bền nhiệt cao hơn, thường trên 600 °C [24]. Điều này cho thay có thé nâng cao những hạn chế của vật liệu MOF một cách dễ dang bang cách thay đổi các cầu nối hữu cơ hoặc cách sắp xếp các phan tử trong không gian, điều không thé thực hiện trong các loại vật liệu khác. Luận văn Thạc sĩ Do đó, từ nghiên cứu đầu tiên về việc sử dụng MOF làm xúc tác được của nhóm tac gia Fujita vào năm 1994 [25], cho dén nay, xuc tac MOF da duoc su dung pho bién va dat duoc rat nhiéu thanh cong nội bật [26-30].2 Ứng dung vật liệu MOF trong lĩnh vực xúc tac Hiện nay có rât nhiêu xu hướng khác nhau trong việc sử dụng vật liệu khung cơ — kim làm xúc tác bao gôm : e Thiết kế vật liệu khung cơ kim với các tâm xúc tác được gan trong cấu trúc : tâm xúc tác là ion kim loại [31-37] hoặc tâm xúc tác nằm trên cầu nối hữu cơ [36, 37].
e Giá mang cho các xúc tác khác: MOF đóng vai trò như zeolite trong việc làm giá mang cho tâm xúc tác. Tâm xúc tác được đưa vao cấu trúc khung co- kim băng cách ngâm tâm trong quá trình tạo vật liệu khung cơ kim, bang cach bay hoi, đồng kết tủa hoặc qua quá trình biến tính vật liệu [38-41]. e Gan các nhóm có tính chất xúc tác vào cau trúc khung [38, 39]. Hướng thiết kế vật liệu khung cơ kim với tâm xúc tác là hướng được áp dụng nhiều nhất vì điều kiện tổng hợp vật liệu MOF thường êm dịu không yêu cầu những kỹ thuật tinh vi.
Bên cạnh đó, vật liệu thu được cũng dễ dàng được xác định đặc trưng bang những phương pháp đơn giản hơn so với các hướng khác. Hơn thế nữa, bằng việc thay thế các tâm kim loại khác nhau cũng như các cầu nối hữu cơ chứa các nhóm chức khác nhau, khả năng xúc tác của vật liệu được nâng lên cũng như thay đối một cách nhanh chóng.1 Tâm kim loại trong cau trúc là tâm xúc tac Như đã trình bay ở trên, vật liệu MOF được hình thành từ các cầu nối hữu co với các ion kim loại chuyển tiếp, như Cu, Zn, Ni, Co, Mn, Fe. Thông thường những kim loại này sau khi tham gia liên kết tao cấu trúc van sẽ còn trồng một số obitan d. Bởi thé, hướng nghiên cứu sử dụng vật liệu MOF như xúc tác acid Lewis là hướng nghiên cứu đầu tiên.
Bên cạnh đó, do lỗi cau trúc: có sự thủy phan lién két kim loai — carboxylate trong cầu trúc MOF dẫn đến sự xuất hiện của tâm acid Bronsted [42]. Hiện tại, nhiều nhóm nghiên cứu đang tận dụng tôi đa sự đa dạng của tâm kim loại chuyền tiếp năm trong cau Luận văn Thạc sĩ trúc cua vật liệu MOF. Ho đã sử dụng những vật liệu MOF có tâm là: Fe, Cu, Cr, Co. để oxi hóa các tác chất như amine, alcohol, cycloalkene, cycloalkane với độ chọn lọc ngày càng tăng cao, cũng như trong các phan ứng ghép đôi C-C hoặc C-dị nguyên tố.