Nghiên cứu xác định mô hình máy nghiền than đá MNTĐ 2 và các thông số tối ưu

Luận văn thạc sĩ phân tích hay nghiên cứu xác định mô hình máy nghiền than đá mntđ 2 và một số thông số tối ưu cho mô hình, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Cơ Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2016

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể và ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất ở ngoài nước

1.1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể

1.1.2. Tổng luận các công trình đã công bố về ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất

1.2. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể và ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất ở trong nước

1.2.1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu mô hình máy nghiền than đá MNTĐ 2

Nghiên cứu mô hình máy nghiền than đá MNTĐ 2 là một trong những bước tiến quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến than đá. Mô hình này không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình nghiền mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp. Việc nghiên cứu và phát triển mô hình này dựa trên các nguyên lý nghiền hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

1.1. Lịch sử phát triển máy nghiền than đá

Máy nghiền than đá đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20. Các công nghệ nghiền hiện đại đã được áp dụng để cải thiện hiệu suất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

1.2. Vai trò của máy nghiền than đá trong ngành công nghiệp

Máy nghiền than đá đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như điện lực, xi măng và thép. Hiệu suất nghiền cao giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao giá trị sản phẩm.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu máy nghiền than đá

Mặc dù máy nghiền than đá MNTĐ 2 đã được phát triển, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Các vấn đề như tiêu thụ điện năng cao, hiệu suất nghiền thấp và ô nhiễm bụi là những yếu tố cần được cải thiện. Việc tối ưu hóa các thông số kỹ thuật là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của máy.

2.1. Tiêu thụ điện năng trong quá trình nghiền

Tiêu thụ điện năng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất. Việc nghiên cứu và tối ưu hóa các thông số kỹ thuật có thể giúp giảm thiểu tiêu thụ điện năng trong quá trình nghiền than đá.

2.2. Vấn đề ô nhiễm bụi trong quá trình nghiền

Ô nhiễm bụi là một trong những vấn đề nghiêm trọng trong ngành công nghiệp nghiền than. Cần có các biện pháp kiểm soát bụi hiệu quả để bảo vệ sức khỏe người lao động và môi trường.

III. Phương pháp nghiên cứu mô hình máy nghiền than đá MNTĐ 2

Nghiên cứu mô hình máy nghiền than đá MNTĐ 2 được thực hiện thông qua các phương pháp khoa học hiện đại. Các phương pháp này bao gồm mô phỏng, thực nghiệm và phân tích số liệu để xác định các thông số tối ưu cho máy nghiền.

3.1. Mô phỏng quá trình nghiền

Mô phỏng quá trình nghiền giúp dự đoán hiệu suất và các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của máy nghiền. Các phần mềm mô phỏng hiện đại được sử dụng để tối ưu hóa thiết kế.

3.2. Phân tích số liệu và tối ưu hóa thông số

Phân tích số liệu thu thập được từ quá trình thực nghiệm giúp xác định các thông số tối ưu cho máy nghiền. Việc tối ưu hóa này không chỉ nâng cao hiệu suất mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất.

IV. Ứng dụng thực tiễn của máy nghiền than đá MNTĐ 2

Máy nghiền than đá MNTĐ 2 đã được ứng dụng rộng rãi trong các nhà máy chế biến than đá. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình này giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu chi phí. Các doanh nghiệp đã ghi nhận sự cải thiện đáng kể trong quy trình sản xuất.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Kết quả nghiên cứu cho thấy máy nghiền than đá MNTĐ 2 có khả năng nghiền hiệu quả với tỷ lệ sản phẩm đạt yêu cầu cao. Doanh nghiệp đã áp dụng mô hình này và đạt được hiệu quả kinh tế rõ rệt.

4.2. Tác động đến ngành công nghiệp chế biến than

Việc áp dụng máy nghiền than đá MNTĐ 2 đã tạo ra những thay đổi tích cực trong ngành công nghiệp chế biến than. Các doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu máy nghiền than đá

Nghiên cứu mô hình máy nghiền than đá MNTĐ 2 đã mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành công nghiệp chế biến than. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cải tiến về công nghệ và hiệu suất. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm và bảo vệ môi trường.

5.1. Hướng phát triển trong tương lai

Hướng phát triển trong tương lai sẽ tập trung vào việc cải tiến công nghệ nghiền và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Các nghiên cứu mới sẽ được thực hiện để tối ưu hóa quy trình sản xuất.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghệ mới. Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu xác định mô hình máy nghiền than đá mntđ 2 và một số thông số tối ưu cho mô hình

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Than đá là nguồn năng lượng hóa thạch có ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nước ta là một trong những quốc gia có trữ lượng than đá vào loại lớn trên thế giới. Các mỏ than đá của nước ta nằm tập trung ở các tỉnh Phìa Bắc như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Ninh Bính, Hòa Bính.

Trong số này có nhiều mỏ than đã được khai thác hàng trăm năm nay. Hiện tại qua thăm dò, cho thấy vỉa than nằm trên lưu vực sông Hồng mà chủ yếu ở hai tỉnh Thái Binh và Hưng Yên có trữ lượng dự đoán lên tới hàng tỷ tấn. Than đá được phân loại ngay trong khai thác theo tình chất của từng mỏ than như than mỡ, than kìp lê,… Do than đá được khai thác từ mỏ tự nhiên nên có các kìch thước khác nhau, từ kìch thước rất bé dạng bụi đến những cục rất lớn. Tùy theo mục đìch sử dụng mà người ta cần chủng loại than đá và kìch thước yêu cầu khác nhau.

Nên sau khai thác, than đá tiếp tục được phân loại theo kìch thước (tuyển than) để đáp ứng mục tiêu của thị trường. Than đá có vị trì, vai trò quan trọng trong an ninh năng lượng để sản xuất điện năng, xi măng, thép…hoặc sử dụng nhiệt trực tiếp. Trước đây việc xuất khẩu than thường chỉ là xuất khẩu thô không qua chế biến nên mang lại giá trị kinh tế không cao. Vì dụ với than đá cục nặng, giá xuất khẩu từ 180  220 USD/tấn, nhưng nếu qua chế biến thành than đá nặng có kìch thước hạt từ 0,6  8,0 mm thí giá xuất khảu lên tới 250  280 USD/tấn.

Mặc dù có giá bán cao, trong xuất khẩu cũng không thể lấy than cám có giá bán rất thấp chỉ vào khoảng 100  140 USD/tấn để sàng phân loại ra than đá có kìch thước hạt từ 0,6  8,0 mm. Ví trong than cám có lẫn nhiều bụi đất làm giảm chất lượng (đặc biệt là nhiệt trị và có các thành phần khác không phải than). Than đá là loại vật liệu có cấu tạo vô định hính, độ bền rất thấp nhưng độ cứng rất cao. Theo Nguyễn Đính Tuyển, đường cong phân bố các phần tử khi nghiền than đá có dạng đường cong lôgarit [6] hay sản phẩm nghiền bởi tác động va LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đập sẽ sinh ra nhiều phần tử có kìch thước bụi bột.

Ví vậy với máy nghiền búa thông thường dùng nghiền than đá thí sản phẩm nghiền có tỉ lệ các phần tử nghiền kìch thước bé rất cao, ví vậy sau khi nghiền phải chi phì nhiều cho công việc phân loại. Đồng thời những sản phẩm nghiền có kìch thước quá nhỏ lại trở thành thứ phẩm vừa gây bụi tạo nguồn ô nhiễm, vừa làm thất thoát sản phẩm nên không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do việc ứng dụng nguyên lý nghiền búa không mang lại hiệu quả kinh tế, nhiều cơ sờ chế biến than đá trong nước đã áp dụng các nguyên lý nghiền khác như nghiền trục, chậu con lăn, …để hạn chế lực va đập gây bụi bột. Mặc dù các nguyên lý nghiền này có giảm tỉ lệ sản phẩm nghiền than đá dạng bụi bột, nhưng vẫn còn cao.

Mặt khác do than đá là loại vật liệu có độ cứng cao (nên cũng rất giòn, dễ vỡ vụn), làm nhanh hư hỏng các chi tiết tạo lực nghiền như bề mặt trục nghiền. Đồng thời các nguyên lý nghiền này cho mức tiêu thụ điện năng lớn, năng suất thấp. Ví vậy, việc nghiên cứu tím ra mô hính máy nghiền than đá hợp lý theo yêu cầu công nghệ để từ đó xác định một số thông số tối ưu cho mô hính có tình cấp thiết cao, ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Được sự chấp thuận của phòng Sau đại học, khoa Cơ điện và Công trính, Ban Giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội và dưới sự hướng dẫn của PGS.

Trần Thị Thanh, tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định mô hình máy nghiền than đá và một số thông số tối ưu cho mô hình”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Lựa chọn mô hính máy nghiền than đá và một số thông số kết cấu và công nghệ tối ưu của máy để ứng dụng vào sản xuất tại công ty Cổ phần Trà Bắc Thành phố Trà Vinh tỉnh Trà Vinh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế kỹ thuật trong chế biến than đá xuất khẩu của doanh nghiệp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là quá trính và thiết bị nghiền than đá phục vụ chế biến than đá xuất khẩu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Phạm vi nghiên cứu về thiết bị là hệ thống nghiền than đá hoàn chỉnh có bộ phận nghiền làm việc theo nguyên tắc kiểu búa va đập tự do.

Phƣơng pháp nghiên cứu Áp dụng các phương pháp điều tra thống kê, tra cứu tài liệu để nghiên cứu phần nội dung tổng luận và cơ sở lý luận của đề tài. Dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan và vận dụng lý thuyết tình toán máy nghiền búa, lý thuyết tình toán vìt tải, lý thuyết tình toán xyclon, lý thuyết tình toán bộ phận lọc túi vải để xác định mô hính máy nghiền than đá theo yêu cầu công nghệ sản xuất chế biến than đá. Áp dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm (QHTN) để xây dựng hai mô hính toán học nhằm điều khiển quá trính công nghệ nghiền than đá yêu cầu là tỷ lệ cấu tử bột nghiền có kìch thước từ 0,6  8 mm TL [%] và chi phì điện năng riêng để nghiền Ar [kWh/t]. Các thông số tối ưu hóa TƯH được xác định bằng tối ưu hóa các mô hính toán học được lập theo phương pháp TƯH đơn và đa mục tiêu.

Quá trính tình toán TƯH được tiến hành trên máy tình điện tử bằng phần mềm của các tác giả Nguyễn Như Nam, Trần Thị Thanh, Nguyễn Trì Tấn (1998) và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  Ý nghĩa khoa học của đề tài là: + Xây dựng được hai mô hính toán học mô tả công nghệ nghiền than đá phục vụ chế biến than đá cho xuất khẩu sang Nhật Bản làm nguyên liệu cho các ngành xử lý nước và năng lượng là tỷ lệ cấu tử bột nghiền có kìch thước từ 0,6  8 mm TL [%] và chi phì điện năng riêng để nghiền Ar [kWh/t]. + Điều khiển “tĩnh” quá trính công nghệ nghiền than đá phục vụ chế biến than đá cho xuất khẩu. + Xác định được các thông số tối ưu hóa cho quá trính và thiết bị nghiền than đá cho máy nghiền than đá MNTĐ – 2 do công ty TNHH.

Sản xuất – Thương mại – LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Cơ khì – Như Thành chế tạo chuyển giao lắp đặt tại công ty Cổ phần Trà Bắc Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.  Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là: Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng trực tiếp vào sản xuất chế biến than đá tại công ty Cổ phần Trà Bắc Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã nâng cao được hiệu quả chế biến than đá phục vụ yêu cầu xuất khẩu sang Nhật Bản làm nguyên liệu cho các ngành xử lý nước và năng lượng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể và ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất ở ngoài nƣớc 1.

Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể Quá trính nghiền là một trong những quá trính cơ học được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp như chế biến thực phẩm, dược phẩm cho người và gia súc, khai thác mỏ, công nghiệp hóa chất,…Ví vậy lý thuyết nghiền nói chung và cho từng nguyên lý nghiền được xây dựng thành hệ thống hoàn chỉnh. Với mục đìch xác định chi phì năng lượng phục vụ cho việc tình toán thiết kế máy nghiền, nên các thuyết nghiền lần lượt ra đời. Năm 1867 nhà bác học người Đức P.Ritingon [6] đã đề xuất thuyết bề mặt với nội dung: "Công dùng cho quá trính nghiền với bề mặt mới tạo thành của vật liệu đem nghiền". Biểu diễn định luật nghiền diện tìch dưới dạng biều thức toán học là: As  f S  [J] (1.1) Trong đó : As – công chi phì để nghiền vỡ vật thể, tạo bề mặt mới, [J]; S – diện tìch bề mặt mới được tạo thành (sự gia tăng diện tìch riêng bề mặt).

Thuyết diện tìch của P.Ritingon tương đối đúng với các quá trính nghiền khi sản phẩm nghiền có dạng bột. Tuy nhiên khi nghiền cho sản phẩm có kìch thước lớn trong các ngành sản xuất than đá, hay đá làm vật liệu xây dựng, giao thông thí biều thức (1.1) có sai số lớn. Phát hiện bằng thực nghiệm cho thấy thuyết diện tìch có sai số lớn khi nghiền cho sản phẩm nghiền có kìch thước lớn ( nghiền thô), năm 1874 nhà bác học người Nga V.Kirpitrev đề xuất thuyết thể tìch và được giáo sư người Đức Ph.Kik kiểm tra bằng thực nghiệm trên máy nghiền kiểu búa vào năm 1885 [6]. Nội dung cơ bản của thuyết thể tìch là : "Công cần thiết để nghiền vật liệu tỉ lệ thuận với mức biến đổi thể tìch của vật liệu".

Biểu thức biểu diễn thuyết nghiền thể tìch là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2) Trong đó : Av – công chi phì để nghiền vỡ vật thể, [J]; V – phần thể tìch vật thể bị biến dạng. Phần thể tìch bị biến dạng V lại tỉ lệ thuận với thể tìch ban đầu V của tất cả các cục vật liệu, nghĩa là V  k1. Cho nên : Av = k.4) Trong đó: k1,k2 – các hệ số tỉ lệ trong các công thức theo thuyết thể tìch. m – khối lượng cục vật liệu nghiền.

Trái ngược với thuyết diện tìch, thuyết thể tìch lại có sai số lớn khi giải thìch về chi phì năng lượng cho quá trính nghiền mịn đến siêu mịn, đặc biệt là cho các ngành sản xuất xi măng, bột đá mịn vốn rất thịnh hành trong thời kỳ này. Ví vậy nằm 1952, nhà bác học người Đức Ph.Bon [6] đã đề xuất một thuyết nghiền thứ ba để dung hoà hai thuyết trên. Nội dung của thuyết dung hoà cho rằng:" Công nghiền tỉ lệ với trung bính nhân giữa thể tìch (V) và bề mặt (S) của vật liệu đem nghiền".5) Sau khi biến đổi ta nhận được: Adh = kdh  1  1  (1.6)  d D Sau này còn có công trính nghiên cứu của nhà bác học Nga A.Rungbixt (1956) và nhà bác học người Mỹ R.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ