ĐẶT VẤN ĐỀ Đậu xanh (Vigna radiata L. Wilczek) là cây họ đậu ngắn ngày, có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho con người, hạt đậu xanh giàu protein, hydratcarbon, sắt và axit amin không thay thế. Hạt đậu xanh chứa nhiều chất dinh dưỡng như protein (21-24%), lipit (1-4%), hydrat cacbon (5,7-5,9%), 4-5% các chất khác và các sinh tố nhóm B nên từ lâu con người đã biết chế biến nhiều thực phẩm từ hạt đậu xanh như giá đỗ, kẹo, bánh, xôi, chè, cháo. Đậu xanh là cây trồng ngắn ngày nên có thể tham gia vào nhiều công thức cây trồng khác nhau trong cơ cấu luân canh, xen canh và gối vụ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tuy không được trồng với diện tích lớn như đậu tương nhưng đối với một số quốc gia thuộc miền Nam và Đông Nam châu Á, đậu xanh đóng một vai trò quan trọng. Hiện nay đậu xanh là cây đậu đỗ quan trọng số 1 của Thái Lan, là cây quan trọng số 2 của Sri Lanca, là cây quan trọng số 3 của Ấn Độ, Myanma, Bangladesh, Indonesia. Đậu xanh cũng được trồng nhiều ở Australia, Trung Quốc, Iran, Kenya, Hàn Quốc, Malaxia, Peru, Hoa Kỳ, các nước vùng Trung Đông (Sherasia et al., 2017, Lisa et al. Ở nước ta, cây đậu xanh đã được gieo trồng từ lâu song diện tích gieo trồng còn manh mún, rải rác từ Nam ra Bắc, từ các tỉnh đồng bằng đến trung du và miền núi, do đó thống kê tình hình phát triển đậu xanh ở nước ta chưa chính xác.
Các giống đậu xanh trồng phổ biến là tằm địa phương, mỡ Hoà Bình do người dân tự để giống nên năng suất rất thấp. Ngoài ra, sản xuất đậu xanh còn mang tính quảng canh, người dân coi cây đậu xanh là cây trồng ăn thêm nên không chú trọng đến các biện pháp kỹ thuật như mật trồng, lượng phân bón và đầu tư bảo vệ thực vật…vì vậy diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh ở nước ta còn rất thấp. Để góp phần mở rộng diện tích và có thể hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung cho cây đậu xanh đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thì cần có bộ giống tốt, có năng suất cao thích ứng với điều kiện canh tác ở từng vùng sinh thái. Bên cạnh đó cần áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như chế độ canh tác, lượng phân bón phù hợp.
nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất đậu xanh. 1 c Xuất phát từ thực tiễn trên tôi thực hiện đề tài: “Tuyển chọn và xác định mật độ trồng, lượng phân bón thích hợp cho dòng đậu xanh mới chọn tạo tại Gia Lâm, Hà Nội”. MỤC TIÊU, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu - Xác định được dòng đậu xanh có năng suất cao và quả chín tập trung phù hợp trồng ở điều kiện vùng đồng bằng sông Hồng.
- Xác định được mật độ trồng và lượng phân bón phù hợp cho dòng đậu xanh triển vọng mới chọn tạo. Yêu cầu - Đánh giá sinh trưởng phát triển và năng suất một số dòng/giống đậu xanh mới tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ, lượng phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất trên dòng đậu xanh triển vọng mới tại Gia Lâm, Hà Nội. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa khoa học Bổ sung thêm các dẫn liệu cơ bản trong nghiên cứu về mật độ trồng và liều lượng phân bón thích hợp trên đậu xanh. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần hoàn thiện quy trình kĩ thuật thâm canh đối với dòng đậu xanh mới chọn tạo. Nghiên cứu góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về cây đậu xanh ở Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được dòng/giống đậu xanh phù hợp trồng ở điều kiện vùng đồng bằng sông Hồng.
Xác định mật độ trồng và liều lượng phân bón thích hợp cho dòng đậu xanh triển vọng để đưa vào sản xuất, từ đó góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích trồng đậu xanh đồng thời nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất thực tiễn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI ĐẬU XANH 2. Nguồn gốc và đặc điểm của cây đậu xanh Đậu xanh [Vigna radiata (L.) Wilczek] có tên gọi theo tiếng Anh là “mung bean”, Cây đậu xanh là loài thực vật bản địa tại Ấn Độ và một số nước châu Á.
Đậu xanh đã được thuần hóa đưa vào canh tác ở Ấn Độ từ thời kỳ cổ đại cách đây vài ngàn năm. Con người đã ủ giá đậu xanh và sử dụng ừ gần 5000 năm trước (Ernest, 2009). Vài thập kỷ gần đây, đậu xanh được coi là một trong những loại cây trồng ngắn ngày quan trọng của vùng châu Á. Với những giá trị dinh dưỡng của mình, nhu cầu sản phẩm từ đậu xanh toàn cầu tăng nhanh, mở rộng trồng và phổ biến đậu xanh ra các vùng lãnh thổ khác như: Đông Nam Á, châu Phi, Bắc Mỹ và Australia (Nair et al.
Đậu xanh là cây trồng hàng năm, thuộc dạng cây bụi, thân thảo. Cây đậu xanh cao từ 30-120cm, có thân màu xanh hoặc tím, thân rỗng dạng vuông và có rãnh, có lông thưa màu xanh (đôi khi có sắc tố tím), thân có thể ở dạng đứng, nghiên hoặc thân bò lan ở một số giống hoang dại vùng đồi núi Ấn Độ và Myanmar. Đậu xanh có ba dạng sinh trưởng phổ biến: Hữu hạn, vô hạn và bán hữu hạn. Thân phát triển thường phân thành 7 đến 15 đốt, các đốt gần mặt đất thường xuất hiện phân cành cấp 1 với số lượng từ 2-3 đến 9-10 cành.
Loài đậu xanh phân cành nhiều, thân bán thẳng đến thân bò thường xuất hiện ở các giống hoang dại hay giống nguyên bản (Chaturvedi et al. Cây đậu xanh có quả mỏng, có lông tơ và dài từ 2,5-10 cm, mỗi quả chứa từ 10-20 hạt nhỏ có màu xanh lá hoặc màu vàng. Đậu xanh có lá mọc sole, phần lớn có 3 lá chét, bề mặt lá được bao phủ bởi lông, cấu trúc lá xẻ 3 thùy đặc trưng của cây họ đậu. Hoa đậu xanh có màu vàng, thường mọc từ đốt thứ 12 đến đốt thứ 15 gần ngọn của cây.
Cây đậu xanh có bộ rễ mọc rộng, rễ cái mọc sâu, rễ có nốt sần và có khả năng cố định nitơ (N) từ không khí nhờ cộng sinh với vi khuẩn Zhizobium (Chaturvedi et al., 2011; Ernest, 2009; Sherasia et al. Đậu xanh là loại cây họ đậu mọc nhanh, ưa khí hậu ấm áp, không bị băng tuyết và sương muối trong suốt quá trình sinh trưởng. Đậu xanh được xếp trong nhóm cây trồng hàng năm, được trồng chủ yếu trong cơ cấu luân canh với các 3 c loại cây ngũ cốc. Cây đậu xanh đạt đến giai đoạn thành thục rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới hoặc á nhiệt đới.
Hạt đậu xanh không thể nảy mầm nếu nhiệt độ không khí nhỏ hơn 150C (Sherasia et al. Nhiệt độ phù hợp cho sinh trưởng phát triển của đậu xanh từ 160C– 360 C, nhiệt độ tối thích trong khoảng 220C – 270C. Ngoài khoảng nhiệt độ phù hợp đậu sẽ phát triển kém, cho năng suất thấp. Giai đoạn nảy mầm và hình thành cây con là giai đoạn mẫn cảm nhất của đậu xanh với nhiệt độ, nên điều khiển nhiệt độ sao cho các giai đoạn này nhiệt độ nằm trong khoảng 250C – 270C, tránh gieo hạt vào thời điểm nhiệt độ không khí quá thấp.
Giai đoạn tích lũy chất khô, nhiệt độ phù hợp nhất đối với đậu xanh là 240C – 250C. Nếu nhiệt độ không khí ấm áp (220C – 270C), ánh sáng ngày ngắn sẽ thúc đẩy đậu xanh nở hoa sớm. Các giống nhiệt đới thường rất mẫn cảm đối với nhiệt độ tối thấp (Đường Hồng Dật, 2006). Cây đậu xanh phát triển thích hợp ở lượng mưa từ 600-1000 mm/năm (điều kiện khô hạn, cận ẩm), có khả năng chịu hạn khá tốt và nhạy cảm với điều kiện ngập nước, không chịu được úng và chết sau từ 5 đến 7 ngày nếu bị ngập.
Đậu xanh mẫn cảm với độ ẩm ở giai đoạn ra hoa và hình thành quả. Độ ẩm cao giai đoạn quả chín có thể khiến hạt đậu xanh nảy mầm trước khi thu hoạch (Đường Hồng Dật, 2006; Sherasia et al. Cây đậu xanh cũng mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn, gặp điều kiện ngày ngắn sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng sinh dưỡng và ra hoa chậm lại, ngược lại điều kiện ánh sáng ngày dài sẽ kích thích cây đậu xanh nở hoa (Đường Hồng Dật, 2006). Phân loại Đậu xanh thuộc họ đậu Fabaceae, tông Phaseoleae và chi Vigna.
Từ năm 1970 đậu xanh được đặt tên khoa học là Vigna radiata (L. Chi Vigna trong đó bao gồm đậu xanh, thuộc về phân chi Ceratoirtopis và có bộ nhiễm sắc thể đặc trưng của tông Phaseoleae với 2n = 2x = 22 (Lambrides and Godwin, 2007).1 mô tả chi tiết phân loại thực vật của cây đậu xanh. Cây đậu xanh được xếp chung nhóm “Beans, dry” trong hệ thống phân loại và dữ liệu FAOSTAT của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAOSTAT, 2019; Sherasia et al. Bảng phân loại thực vật của đậu xanh Giới (Kingdom) Plantae – Thực vật Giới phụ (Subkingdom) Tracheobionta – thực vật có mạch Ngành (Division) Magnoliophyta – thực vật có hoa Lớp (Class) Magnoliopsida – lớp 2 lá mầm Phân lớp (Subclass) Hoa hồng (Rosidae) Bộ (Order) Đậu (Fabales) Họ (Faminly) Đậu (Fabaceae) Phân họ (Subfarmily) Papilionoideae Tông (Tribe) Phaseoleae Chi (Genus) Vigna Phân chi (Subgenus) Ceratoirtopis Loài (Species) Radiata Loài phụ (Subspecies) Radiata Nguồn: Lambrides and Godwin (2007); Sherasia et al.
GIÁ TRỊ CỦA CÂY ĐẬU XANH 2. Giá trị dinh dưỡng của đậu xanh Đậu xanh là nguồn bổ xung protein thiết yếu, là loại đậu đỗ có giá trị dinh dưỡng cao giàu hàm lượng protein dễ tiêu hóa, mặt khác lại có giá thành thấp được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người (R. Nair et al. Hàm lượng protein trong 100g hạt đậu xanh từ 14,6 – 33,0 g, trung bình khoảng 23,86% trọng lượng hạt.
Đậu xanh có hàm lượng folate và hàm lượng sắt từ 5,9 – 7,6 mg/100 g cao hơn so với các loại cây đậu đỗ khác (Anusheela, 2017; Dahiya et al., 2015; Đường Hồng Dật, 2006; Sherasia et al., 2017; USDA Nutrient Database, 2019). Trong các loại protein của đậu xanh, globulins là thành phần chính chiếm 85% hàm lượng protein tổng số. Ngoài ra chuỗi M-terminal amino axit, cấu trúc và tính tương đồng giữa 3 loại isoforms riêng biệt của 8Sα globulin cũng được nghiên cứu và mô tả chi tiết.