Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN Chương II : ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TÊN NGƢỜI ANH Chương III : ĐẶC ĐIỂM í NGHĨA CỦA TấN NGƢỜI ANH 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Tờn riờng và danh từ chung 1.1 Danh xƣng học với việc nghiên cứu tên riêng Ngành khoa học nghiờn cứu tờn riờng trờn tất cả cỏc bỡnh diện đƣợc gọi là ngành Danh xưng học (Onomastics). Phạm vi nghiên cứu của ngành Danh xƣng học là rất rộng bởi vỡ gần nhƣ mọi thứ đều có tên và cũng bởi vỡ về mặt lớ thuyết, việc nghiờn cứu về tờn bao gồm tất cả cỏc ngụn ngữ, ở tất cả cỏc vựng địa lí, văn hóa và các thời đại lịch sử khỏc nhau. Dựa trên mục đích thực tế, ngƣời ta có thể chia phạm vi nghiên cứu của Danh xƣng học thành những nhóm nhỏ nhƣ theo ngôn ngữ (ví dụ: nghiên cứu tên riêng trong tiếng Hy Lạp.), hoặc theo tiêu chí địa lí, lịch sử (ví dụ: nghiên cứu tên riêng tại Trung Quốc, nghiên cứu tên riêng chỉ ngƣời thời Đế chế La Mó.) Dựa trên đặc điểm của tên riêng, ngƣời ta chia khoa học nghiên cứu về tên riêng thành 2 chuyên ngành là Nhõn danh học (Anthroponomastics) và Địa danh học (Toponomastics).
Nhõn danh học là khoa học nghiên cứu về tên riêng chỉ ngƣời hoặc tên ngƣời. Địa danh học là khoa học nghiên cứu về tên đất, tên địa điểm. Tuy nhiên, hiện nay ngƣời ta thƣờng dùng thuật ngữ “onomastics” để chỉ khoa học nghiên cứu về tên riêng và thuật ngữ “toponomy” để chỉ ngành khoa học nghiên cứu địa danh. Thuật ngữ “địa danh học” (toponomy) có thể đƣợc hiểu theo 2 cách: theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này chỉ ngành khoa học nghiên cứu tên đất, tên đƣờng, tên nhà, tên đất nƣớc, tên núi non, tờn sụng, tờn hồ, tờn biển cả, tờn cỏc vỡ sao. Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ ngành khoa học nghiờn cứu tờn địa điểm nhƣ tên thành phố, tên thị trấn, tên làng mạc. Việc phân chia ngành danh xƣng học thành nhân danh học và địa danh học là để thuận tiện hơn trong quá trỡnh nghiờn cứu tờn riờng. Tuy vậy, để đạt đƣợc kết quả nghiên cứu tốt nhất, ngƣời ta thƣờng nghiên cứu tên ngƣời và tên đất cùng nhau, bởi vỡ giữa 2 đối tƣợng này thƣờng xẩy ra chuyển đổi.
Chẳng hạn, nhiều 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tên đất có nguồn gốc từ tên ngƣời nhƣ “thành phố Hồ Chí Minh”, “thủ đô Washington”, tên các hành tinh theo thần thoại Hy Lạp – La Mó. và nhiều tờn ngƣời có nguồn gốc từ địa danh nhƣ “Thành Nam”, “Hoà Bỡnh”, “Kỳ Anh”. trong tiếng Việt hoặc “French”, “Scott”. trong tiếng Anh.2 Đặc điểm về chức năng, ý nghĩa và ngữ phỏp của tờn riờng Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ “tên riêng” để chỉ tên gọi cá thể hoá hay tên cá thể.
Tên riêng bao gồm hai loại: nhân danh và địa danh. Nhân danh liên hệ đến một ngƣời hay một nhóm ngƣời (nhƣ anh Xuõn, họ Huỳnh của ngƣời Việt; cô Mary, dũng họ Curtis của ngƣời Anh). Địa danh đề cập tới một vùng vùng lónh thổ nhất định (nhƣ Hà Nội, London). Tuy nhiên, trong vấn đề tên riêng vẫn cũn nhiều điều cũn bỏ ngỏ, nhất là khi đi vào khảo sát các nội dung cụ thể nhƣ tiêu chí phân biệt tên riêng và tên chung, các kiểu loại tên riêng, đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, phạm vi hành chức chủ yếu.
Dƣới đây, chúng tôi xin giới thiệu ba bỡnh diện cơ bản của tên riêng: chức năng, ý nghĩa và ngữ phỏp.1 Chức năng của tên riêng Một danh từ chung có thể đƣợc dùng để chỉ một nhóm thực thể và cũng có thể đƣợc dùng để chỉ một cá thể đơn nhất. Tức là, danh từ chung vừa có nội dung ngữ nghĩa nhất định vừa chỉ một đối tƣợng hiện thực. Ví dụ, ngƣời dân ở bói An Dƣơng (Quận Tây Hồ - Hà Nội) nói “Đi bơi đi nhƣng ở bể bơi chứ không phải ở sông đâu nhé” thỡ rừ ràng từ “sụng” ở đây đó hàm chỉ tới một cỏ thể duy nhất, một dũng sụng duy nhất, đó là sông Hồng. Tuy nhiên, điều này không làm cho tên riêng của dũng sông này mất đi.
Rừ ràng từ “sụng” ở đây là một danh chung nhƣng với một ngữ cảnh ngôn ngữ đặc biệt, nó đó chuyển sang chỉ một thực thể duy nhất. Trong khi đó, tên riêng chỉ có một chức năng là chức năng biểu đạt. Chức năng này giúp phân biệt, nhận biết đƣợc sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời mà không chỉ ra đặc tính phẩm chất của các đối tƣợng đƣợc gọi tên đó. Một số danh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ chỉ tên dƣờng nhƣ thuộc về nhóm danh từ chung nhiều hơn là nhóm danh từ chỉ tên riêng nhƣ trƣờng hợp “Sài Gũn” trong “sụng Sài Gũn”.
Vớ dụ các tên riêng nhƣ “Gũ Cụng”, “Rạch Rỏ”, “Bến Tre”, “Hà Nội”. cú lẽ là bắt nguồn từ việc sử dụng danh từ chung một cỏch riờng biệt. Nếu cõu “Chỳng tụi đi bơi ở cái hồ phía tây chứ không không phải phía đông” đƣợc lặp lại nhiều lần, thỡ cú thể cỏi tờn “Hồ Tây” hoặc “Tây Hồ” sẽ đƣợc hỡnh thành với tƣ cách là một danh từ chỉ tên riêng. Những tên riêng đƣợc hỡnh thành nhƣ cách ở trên phần lớn là những tên mang đặc điểm mô tả.
Khi đề cập tới một đối tƣợng cụ thể, đơn nhất trong cả thế giới hiện thực hay tƣởng tƣợng, tên riêng thể hiện đƣợc đầy đủ nhất chức năng gọi tên sự vật của mỡnh. Chức năng này đó giỳp tờn riờng trở thành phƣơng tiện nhận biết tốt nhất. Chẳng hạn, khi ngƣời ta nói: “Hemingway đó nhận giải thƣởng Nobel văn học năm 1954” thỡ ai cũng biết đó là nhà văn nổi tiếng ngƣời Mỹ Ernest Hemingway, ngƣời đó viết cỏc tiểu thuyết “Chuụng nguyện hồn ai”, “ễng già và biển cả”. Sự khác biệt giữa danh từ chỉ tên và danh từ chung thƣờng không khó xác định: danh từ chỉ tên đƣợc dùng để chỉ một đối tƣợng duy nhất, danh từ chung đƣợc dùng để chỉ tất cả các đối tƣợng trong cùng một nhóm hoặc là bất cứ một đối tƣợng nào đó trong nhóm (ví dụ nhƣ sông, núi, đàn ông, đàn bà, cái xe, cái bàn.
Tuy nhiên, cũng có trƣờng hợp mà ranh giới xác định tỏ ra không hoàn toàn rừ ràng. Vớ dụ “ngƣời Anh”, “ngƣời Việt”, “ngƣời Nga” thỡ đƣợc coi là danh từ chỉ tên, nhƣng cũng có những nhóm ngƣời khác thỡ lại khụng đƣợc coi là danh từ chỉ tên và do vậy các từ ngữ nhƣ “chiến sĩ”, “thuỷ thủ”, “giới nghệ sĩ”. lại là danh từ chung. Ngoài ra cũn nhiều danh từ khỏc rất khú xỏc định là danh từ chung hay danh từ chỉ tên.
Chẳng hạn, nếu tất cả xe máy do ông Honda sản xuất thỡ liệu “Honda” cú cũn là tờn nữa khụng? Nếu vẫn là danh từ chỉ tờn thỡ liệu nú cú cũn giữ đƣợc đầy đủ những chức năng khu biệt với danh từ chung không? Thực tế cho thấy, những tên loại này thƣờng mất dần đi tính chất của danh từ chỉ tên và chuyển thành danh từ chung. Ví dụ, sau khi thống nhất đất nƣớc, rất nhiều xe máy Honda đƣợc mang ra ngoài miền Bắc và ngƣời miền Bắc cú thúi quen gọi tất cả cỏc loại xe mỏy là Honda. Hoặc hóng Sony đó rất thành cụng với loại mỏy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghe nhạc bỏ tỳi Walkman đến nỗi ngƣời phƣơng Tây có thói quen gọi tất cả các máy nghe nhạc loại này Walkman mà không quan tâm tới tên thƣơng hiệu của chúng là gỡ. Những tờn nhƣ “Roman Catholic Church” (Nhà thờ Cơ đốc giáo La Mó), “Mexico City” (thành phố Mexico) vừa cú biểu hiện của danh từ chung vừa cú tớnh chất của danh từ chỉ tờn.
Tỡnh trạng khụng rừ ràng này là kết quả của việc viết hoa hay khụng viết hoa cỏc thành tố trong các ngôn ngữ khác nhau. Vấn đề này đó cú lịch sử lõu dài và đƣợc phản ánh trong hệ thống thuật ngữ hiện đại. Ngƣời Hy Lạp dùng thuật ngữ danh từ (onoma) để chỉ cả danh từ chung và danh từ chỉ tên và khi muốn phân biệt, họ gọi danh từ chỉ tờn là danh từ riờng (onoma kyrion). Chính là từ truyền thống này mà ngƣời Anh dùng thuật ngữ “danh từ riờng” (proper noun) hoặc “tờn riờng” (proper name) để chỉ các danh từ chỉ tên và “danh từ chung” (common noun) để chỉ các danh từ không chỉ tên riêng (appellative).
Ngoài chức năng gọi tên sự vật, tên riêng cũn cú chức năng ngữ dụng, tức là chúng đƣợc dùng nhƣ một phƣơng tiện biểu hiện tỡnh cảm, quan hệ hay đánh giá đối tƣợng đƣợc gọi tên. Điều này đƣợc thể hiện rất rừ ở tớnh đặc thù trong sử dụng tên riêng ở mỗi dân tộc, mỗi ngôn ngữ. Chẳng hạn, việc gọi tên một ngƣời Anh theo tên cá nhân, theo tên họ, theo tên đầy đủ không có tên đệm, theo tên đầy đủ với yếu tố tên đệm cũng phản ánh rừ mối quan hệ thõn, sơ, hay kính trọng cũng nhƣ địa vị xó hội của ngƣời ngƣời đƣợc gọi tên và ngƣời gọi tên. Ở ngƣời Việt cũng vậy, thông thƣờng ngƣời ta gọi nhau bằng tên tên nhƣ “anh Bỡnh”, “chị Mai”, “bà Hoà” v.
nhƣng trong những bối cảnh giao tiếp mang tính hành chính lại cần thiết phải gọi cả họ tên đầy đủ (anh Nguyễn Văn Bỡnh, chị Hoàng Thu Mai, bà Trần Thị Hoà). Nhƣ vậy, có thể thấy tên riêng có một số chức năng quan trọng sau: chức năng gọi tên, chức năng nhận biết, chức năng biểu đạt và chức năng ngữ dụng.2 í nghĩa của tờn riờng Câu hỏi chung quanh vấn đề tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa đó cú từ khi con ngƣời biết đặt tên và cho đến nay vẫn là vấn đề thời sự trong nghiên cứu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tên riêng. Vấn đề nghĩa của tên riêng luôn gắn liền với bản chất của tên riêng. Vấn đề ý nghĩa của tờn riờng (sense/meaning of proper name) là một vấn đề lớn và hiện nay vẫn cũn nhiều ý kiến trỏi ngƣợc nhau xung quanh vấn đề này.
Trong giới nghiên cứu về tên riêng, có 2 trƣờng phái nổi lên thu hút đƣợc nhiều sự chú ý. Đó là trƣờng phái cho rằng tên riêng có nghĩa và trƣờng phái cho rằng tên riêng không có nghĩa. Cho rằng tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa cũng chính là khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của kết cấu vật chất bên trong tên riêng. Đại diện nổi bật của trƣờng phái cho rằng tên riêng có nghĩa là Frege (Gottlob Frege, 1848 – 1925).