phần mở đầu, phần kết luận chung và phần kiến nghị, nội dung luận án được trình bày trong ba chương. Tổng quan về lưỡng ổn định quang nguyên tử. Trong chương này chúng tôi trình bày các nguyên lý OB dựa trên lý thuyết về buồng cộng hưởng vòng, buồng cộng hưởng Fabry – Perot, lý thuyết về AOB hai mức. 6 Lý thuyết trường trung bình và AOB hấp thụ, AOB tán sắc và AOB dùng môi trường EIT ba mức năng lượng.
Môi trường EIT năm mức bậc thang. Trong chương này, chúng tôi sử dụng lý thuyết ma trận mật độ để mô tả tính chất quang của nguyên tử 5 mức năng lượng cấu hình bậc thang trong gần đúng sóng quay, gần đúng lưỡng cực. Từ đó, chúng tôi nghiên cứu khả năng điều khiển phi tuyến Kerr của môi trường nguyên tử khi có hiệu ứng EIT bằng cách thay đổi thông số của trường laser điều khiển (tần số và công suất). Đây là cơ sở cho nghiên cứu khả năng điều khiển đặc trưng OB (độ rộng, ngưỡng, …).
Lưỡng ổn định quang của buồng cộng hưởng vòng chứa môi trường EIT năm mức năng lượng. Trong chương này chúng tôi xây dựng phương trình đặc trưng AOB. Khi đó, phương trình cường độ vào – ra của AOB sẽ liên hệ với phần tử ma trận ρ21 ứng với dịch chuyển dò. Đây là tham số liên quan tới phi tuyến Kerr đã được khảo sát ở chương 2.
Chúng tôi đã khảo sát OB thông qua các tham số trường laser điều khiển, trường laser dò và tham số liên kết C. Đồng thời, sử dụng phương pháp giải số để so sánh với kết quả giải tích. Trên cơ sở vật chất thiết bị hiện có, chúng tôi đề xuất xây dựng hệ thực nghiệm quan sát AOB cho hệ nguyên tử Rb. 7 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LƯỠNG ỔN ĐỊNH QUANG NGUYÊN TỬ 1.
Nguyên lý lưỡng ổn định quang Hệ lưỡng ổn định quang là hệ có đường đặc trưng về mối quan hệ giữa các cường độ sáng đầu vào II và đầu ra IT (phương trình mô tả mối quan hệ giữa các cường độ sáng vào và ra được gọi tắt là phương trình lưỡng ổn định) được mô tả như trên Hình 1. Theo đó, trong miền lưỡng ổn định (miền được giới hạn bởi hai đoạn chấm chấm thẳng đứng trong Hình 1.1a), với cùng một giá trị của cường độ sáng đầu vào nhưng cường độ sáng đầu ra có thể nhận một trong hai giá trị thấp (ứng với nhánh dưới) hoặc cao (ứng với nhánh trên) tùy thuộc vào lịch sử thay đổi của cường độ sáng đầu vào. Nói cách khác, hàm truyền ℑ(IT) của hệ sẽ có dạng phi tuyến (thường là hình chuông). Đường đặc trưng về mối quan hệ vào - ra của hệ OB (a) và sơ đồ nguyên lí một OB (b).
8 Về mặt nguyên lý cấu trúc, một hệ lưỡng ổn định phải có tối thiểu hai bộ phận: môi trường phi tuyến và phản hồi ngược như trên Hình 1. Môi trường phi tuyến (thường là môi trường Kerr) đóng vai trò thay đổi quang trình theo cường độ sáng đối với các tia sáng đi qua thiết bị, còn phản hồi ngược đóng vai trò điều khiển chiết suất của môi trường phi tuyến (do đó điều khiển pha của các tia sáng lan truyền bên trong). Trong thực tế, để tạo tín hiệu phản hồi ngược người ta thường đặt môi trường phi tuyến vào trong buồng cộng hưởng quang. Dựa vào loại tín hiệu phản hồi ngược, OB được chia làm hai loại [2]: lưỡng ổn định hấp thụ và lưỡng ổn định tán sắc.
Lưỡng ổn định hấp thụ (toàn quang) sử dụng ánh sáng làm tín hiệu phản hồi. Lưỡng ổn định tán sắc (có sự pha trộn giữa điện và quang) sử dụng cơ chế điện-quang để làm thay đổi chiết suất của môi trường phi tuyến. Buồng cộng hưởng quang Buồng cộng hưởng quang được tạo thành từ các gương phản xạ có hệ số phản xạ rất cao và sắp xếp theo một cấu hình nhất định. Buồng cộng hưởng có hai cấu hình: buồng cộng hưởng sóng đứng và buồng cộng hưởng vòng [41,42].
Buồng cộng hưởng quang là yếu tố chính trong chế tạo laser, thiết bị OB và các hệ thống phát tham số quang học, … Buồng cộng hưởng quang hoạt động theo nguyên lý của sự giao thoa giữa các chùm sáng trong buồng cộng hưởng. Chỉ có tần số cộng hưởng mới được tăng cường, trong khi những tần số khác bị triệt tiêu. Dạng của các sóng đứng được tạo ra gọi là các mode của buồng cộng hưởng. Mode dọc và mode ngang được hình thành trong buồng cộng hưởng quang.
Hai mode dọc của một buồng cộng hưởng sẽ khác nhau về tần số, còn hai mode ngang khác nhau về phân bố cường độ của ánh sáng theo hướng ngang hoặc trên diện tích mặt cắt ngang của 9 chùm sáng. Mode cơ bản được ký hiệu là TEM00, trong mode này cường độ chùm sáng được phân bố theo dạng Gaussian trên mặt cắt ngang của nó [42,43]. Các loại buồng cộng hưởng quang có thể được xây dựng bằng cách sắp xếp gương theo các hình thức khác nhau, sử dụng gương cầu có tiêu cự khác nhau hoặc gương phẳng. Sự ổn định của buồng cộng hưởng quang phụ thuộc chủ yếu vào các thông số hình học.
Đối với thiết kế hình học nhất định của một buồng cộng hưởng, chùm sáng tiếp tục duy trì sau rất nhiều lần phản xạ lên gương, buồng cộng hưởng như vậy gọi là ổn định. Tuy nhiên buồng cộng hưởng không ổn định cũng rất có ích trong một số ứng dụng (dùng để loại trừ chùm sáng có tần số không mong muốn, …). Hai tham số đặc trưng cho cộng hưởng quang đó là: kích thước mặt thắt chùm tia và bán kính cong của mode bên trong buồng cộng hưởng [43]. Buồng cộng hưởng Fabry-Perot Buồng cộng hưởng Fabry – Perot (F - P), được tạo thành từ hệ gồm hai gương phẳng (hoặc gương cầu) phản xạ một phần, đặt đối diện nhau và cách nhau một khoảng nhất định.
Đây là loại buồng cộng hưởng sóng đứng. Các tính toán lý thuyết của buồng cộng hưởng F – P dưới đây là cơ sở để tính toán cho buồng cộng hưởng vòng. Xét một chùm sáng có cường độ I0, bước 2π sóng λ và véctơ sóng k = đi qua một bản có bề dày d và chiết suất n như λ hình 1. Cường độ ánh sáng truyền qua IT và phản xạ IR trên hai bề mặt được định nghĩa bởi hệ số truyền qua T và hệ số phản xạ R.
Giả sử bản mặt không hấp thụ ánh sáng chiếu vào, do đó R + T = 1. Cường độ sáng truyền qua và cường độ sáng phản xạ từ các mặt gương được tính bằng cách tổng hợp các sóng có biên độ tương ứng, bao gồm cả sự dịch chuyển pha do phản xạ bên trong bản mặt. 10 Ir I0 d n n′ It Hình 1. Sự phản xạ và truyền qua ở bản mặt song song có bề dày d dẫn đến sự giao thoa [44].
Đặt r là hệ số phản xạ, t là hệ số truyền qua tại mặt phân cách của hai môi trường khi sóng truyền từ môi trường có chiết suất nʹ vào môi trường có chiết suất n; rʹ và tʹ lần lượt là hệ số phản xạ và hệ số truyền qua ở mặt phân cách của hai môi trường khi sóng truyền từ môi trường có chiết suất n sang môi trường có chiết suất nʹ như hình 1. Bằng cách so sánh hai trạng thái như trong hình 1.4 chúng ta tính toán được tổng cường độ sáng phản xạ và truyền qua mặt phân cách giữa hai môi trường trong suốt ttʹ + rrʹ = 1 và trʹ + rtʹ = 0, từ đó rʹ = - r, rʹ2 = r2 = R và ttʹ = T = 1 – R. Trong các thí nghiệm, ánh sáng truyền xiên góc như biểu diễn như trong hình 1.2, tuy nhiên để tính toán đơn giản, ta xem như ánh sáng chiếu vuông góc với mặt phân cách. Tổng hợp các sóng phản xạ từ mặt phân cách cho ta tổng số biên độ phản xạ [45].
Các sóng “p” khi truyền qua bề tại mặt phân cách có thêm độ lệch pha do sự thay đổi quang trình một lượng 2pdn. Biên độ sóng “p” cho bởi ttʹ(rʹ)2p-1 do sự phản xạ và truyền qua nhiều lần. Sóng phản xạ lần đầu tiên 11 sẽ bị thay đổi một phần nhỏ trong tổng biên độ sóng. Do đó, tổng toàn bộ biên độ sóng do sự giao thoa cho ta sự biểu diễn toàn bộ biên độ sóng phản xạ ∞ 1 − eiϕ E0 r + E0 exp(2ikdn)tt ′r ′∑ (r ') 2 p exp(2ikpdn) = ER = E0 r .1) p =0 1 − Reiϕ ở đây, E0 là biên độ sóng tới và ϕ = 2kdn = 4πdn/λ.
Với tia tới không thẳng góc (θ ≠ 0) sự biểu diễn của ϕ sẽ được biến đổi thành ϕ = 4πdncos(θ)/λ. Khi đó, cường độ sáng phản xạ là 2 R (1 − cos (ϕ ) ) I 0 4 R sin 2 (ϕ / 2 ) I 0 = R. Sự phản xạ và truyền qua mặt phân cách của hai môi trường trong suốt [45]. Sử dụng định luật bảo toàn năng lượng ta có IR + IT = I0, do đó cường độ truyền qua sẽ là [44] T 2 I0 T 2 I0 =IT = .5b) 1 + Q sin 2 (ϕ / 2 ) rr′ + tt′ r r n′ n t tr′ + rt t Hình 1.
Mô tả sự phản xạ trở lại và truyền qua mặt phân cách giữa hai môi trường tại thời điểm t [45]. Hệ số phẩm chất Q có liên quan tới tham số Độ mịn (Finesse) của buồng cộng hưởng F - P và nó lượng tử hóa khả năng tích lũy năng lượng của buồng cộng hưởng quang. Định nghĩa hệ số phẩm chất Q cho buồng cộng hưởng quang bằng hệ thức Q=ω/δω. Khi hệ số phẩm chất Q cao thì khả năng tích lũy năng lượng của buồng cộng hưởng càng cao (có tần số cộng hưởng ω) và khi đó công tua buồng cộng hưởng hẹp (tức là độ rộng phổ (δω) của công tua truyền trong buồng cộng hưởng hẹp).
13 Đồ thị mô tả cường độ sáng truyền qua ứng với biểu thức (1.5b) được vẽ trên hình 1.5 với các giá trị khác nhau của hệ số phẩm chất Q [45]. Trục x của hình biểu diễn các bậc giao thoa khác nhau Ni = ϕ/2π. Từ hình vẽ cho ta thấy, độ rộng của công tua truyền qua giảm khi hệ số phẩm chất Q tăng hay sự truyền qua trở nên sắc nét hơn ứng với giá trị Q cao hơn của buồng cộng hưởng. Ngoài ra, khi buồng cộng hưởng có hệ số phẩm chất Q cao, sẽ triệt tiêu cường độ sáng truyền qua nằm giữa hai đỉnh.