Chương 1: Cơ sở lý luận về sự lan tỏa không gian của tham nhũng và tổng quan nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng lan tỏa không gian của tham nhũng ở Việt Nam Chương 4: Những đề xuất giảm thiểu tham nhũng ở Việt Nam 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LAN TỎA KHÔNG GIAN CỦA THAM NHŨNG VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Các nghiên cứu về tham nhũng Nghiên cứu về tham nhũng đã nhận được sự quan tâm của toàn thế giới, bao gồm cả những nhà nghiên cứu và quản lý thuộc nhiều lĩnh vực.Số lượng nghiên cứu về tham nhũng tăng lên mạnh mẽ, theo nhiều hướng, nội dung và liên ngành.
Các nghiên cứu đề cập tới khái niệm, nguyên nhân/các yếu tố ảnh hưởng, hậu quả/tác động của tham nhũng, tham nhũng và phát triển cho đến các nội dung nghiên cứu đương đại về tham nhũng… cũng đã được tổng quan đầy đủ trong các nghiên cứu trước đây. Lambsdorff (1999)đã tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tham nhũng tới đầu tư, GDP, chất lượng thể chế, chi tiêu của chính phủ, nghèo đói, di chuyển dòng vốn quốc tế, viện trợ/ODA, thương mại quốc tế. Những nội dung nghiên cứu thực nghiệm này cũng đã được tổng hợp trongAndvig và cộng sự (2001)và Burguet và cộng sự (2016).Các nghiên cứu như Van Rijckeghem và Weder (2001), Jain (2001) hay Burguet và cộng sự (2016)cũng tổng hợp các nguyên nhân của tham nhũng như thiếu cạnh tranh, chính sách bị bóp méo, hệ thống chính trị, việc xử phạt tham nhũng, tiền lương thấp ở khu vực công, hay những khía cạnh văn hóa, thể chế khác. Tuy nhiên, vẫn còn một số ý kiến trái chiều về nguyên nhân cũng như tác động của tham nhũng.
Ví dụ, những nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm tham nhũng thúc đẩy tăng trưởng lý giải rằng, tham nhũng có thể cho phép các công ty linh động hơn trong sản xuất kinh doanh giữa một nền kinh tế quan liêu, luật lệ thiếu chặt chẽ, cứng nhắc (Leff, 1964). Lui (1985) chỉ ra rằng một hệ thống dựa trên cơ chế xin cho để phân bổ nguồn lực khan hiếm sẽ dẫn tới kết quả công ty có hiệu quả nhất sẽ có khả năng hối lộ mạnh nhất. Nghiên cứu của Rauch và Evans (2000)và Treisman (2000)không tìm thấy bằng chứng nào trong các nghiên cứu với dữ liệu xuyên quốc 2 gia về mối quan hệ này. Thậm chí,Mookherjee và Png (1995)còn chỉ ra trong một số trường hợp, mức lương cao hơn đã làm gia tăng chi phí của tham nhũng.
Mặc dù vậy, để phát triển bền vững, bao trùm thì vấn đề cần giảm thiểu tham nhũng vẫn được đại đa số các nghiên cứu ủng hộ. Các lý thuyết thường được sử dụng cho nghiên cứu tham nhũng, bao gồm: - Phân tích lợi ích chi phí từ nghiên cứu của Leff (1964) cũng như Nye (1967). - Lý thuyết người đại diện khi Rose và Rose-Ackerman (1978)sử dụng lý thuyết người đại diện để giải thích tham nhũng của cán bộ dân bầu và tham nhũng vặt trong cơ quan quản lý. - Lý thuyết phân bổ nguồn lực/tìm kiếm lợi nhuận (rent seeking) coi tham nhũng là hành vi mà doanh nghiệp hay cá nhân tìm kiếm lợi nhuận (Krueger, 1974).
- Lý thuyết thể chế kinh tế của tham nhũng từ công trình củaJ. - Và gần đây giải thích tham nhũng dựa trên cách tiếp cận xây dựng xã hội (Gillespie và cộng sự, 2019). Những nghiên cứu về tham nhũng được nghiên cứu khá đa dạng trong bối cảnh Việt Nam. Các nghiên cứu tập trung vào xem xét hành vi tham nhũng xuất phát từ góc độ doanh nghiệp, ví dụ Thang Nguyen và cộng sự (2016)nghiên cứu các chi phí và lợi ích mà doanh nghiệp có thể thu được khi họ tham gia vào các hành vi tham nhũng; các nghiên cứu xem xét tác động của tham nhũng tới các biến kinh tế xã hội khác như: đầu tư như Malesky (2010); Malesky và cộng sự (2015), kết quả kinh doanh, năng suất, của doanh nghiệp như Bai và cộng sự (2013); Tran và cộng sự (2016);Thuy Nguyen và van Dijk (2012);Vu và cộng sự (2018).
Ngoài ra, một số nghiên cứu hành vi hối lộ của người dân và ảnh hưởng của tham nhũng từ cách tiếp cận của người dân như, ảnh hưởng của tham nhũng tới chất lượng dịch vụ công (Thang và cộng sự, 2017). Các nghiên cứu về sự lan tỏa không gian của tham nhũng Ảnh hưởng không gian trong nghiên cứu tham nhũng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và quản lý thực tiễn trong những năm gần đây. Các công trình thường được nghiên cứu ở hai cấp độ: đa quốc gia hoặc giữa các địa phương 3 trong cùng một quốc gia.Dù ở cấp độ nào thì sự ảnh hưởng lan truyền không gian của tham nhũng có thể xảy ra do có sự di chuyển nguồn lực, quan hệ thương mại, đầu tư, tương tác xã hội cũng như mối quan hệ phụ thuộc khác. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm lại chưa thống nhất: có nghiên cứu xác định tồn tại sự tác động lan tỏa không gian của tham nhũng (Attila (2008);Borsky và Kalkschmied (2018); Goel và Nelson (2007);López-Valcárcel và cộng sự (2017);Márquez và cộng sự (2011); Quazi và cộng sự (2013)); cũng có các nghiên cứu không phát hiện tác động lan tỏa không gian của tham nhũng (Donfouet và cộng sự, 2018).
Các nghiên cứu lan tỏa không gian của tham nhũng ở cấp độ vùng/tỉnh trong một quốc gia được tiến hành ở một số nước và đã có những kết quả khá nhất quán. Chẳng hạn, Goel và Nelson (2007)phát hiện có sự lây lan tham nhũng giữa các bang ở Mỹ với 1% tham nhũng tăng thêm ở bang này có thể dẫn đến 0,4 đến 1,1% tham nhũng tăng thêm ở các bang lân cận. Kết quả tương tự cũng được phát hiện khi nghiên cứu các tỉnh của Tây Ban Nha (López-Valcárcel và cộng sự, 2017). Còn khi nghiên cứu ở Trung Quốc, Dong và cộng sự (2012)phát hiện có sự lan tỏa không gian của tham nhũng nhưng tác động này tồn tại trong một số điều kiện có sự hợp tác nhất định - họ gọi đó là sự lan tỏa tham nhũng có điều kiện.
Số liệu từ những khảo sát PAPI do UNDP Việt Nam và USAIDS thực hiện cho thấy có sự gắn bó đồng điệu về không gian giữa cảm nhận tham nhũng/kiểm soát tham nhũngcủa người dân ở các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và giữa các tỉnh ở Đồng bằng Sông Hồng. Tuy nhiên, những nghiên cứu ảnh hưởng và cơ chế lan tỏa không gian của tham nhũng hiện là một khoảng trống cần nghiên cứu chặt chẽ trong bối cảnh ở Việt Nam. Khoảng trống nghiên cứu Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về tham nhũng hiện nay tại Việt Nam đã thực hiện rất đầy đủ từ khái niệm, đặc trưng, nguyên nhân, tác động ảnh hưởng của tham nhũng tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội. 4 Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày càng phát triển, không chỉ những yếu tố tích cực mà ngay cả những nhân tố tiêu cực như tham nhũng cũng biến đổi không ngừng, ngày càng trở nên phức tạp.
Tham nhũng từ lợi ích cá nhân đã mở rộng, lan tỏa thành những nhóm lợi ích, từ một nhân tố cá biệt trở thành một nhân tố mang tính phổ biến, từ hiện tượng không được chấp nhận trở thành hiện tượng ngầm được chấp nhận. Các nghiên cứu cho Việt Nam trước đây mới chỉ đề cập tới tham nhũng và các yếu tố ảnh hưởng tới tham nhũng nhưng chưa đề cập tới các tác động không gian của tham nhũng, cũng như chưa luận giải được cơ chế lan tỏa không gian của tham nhũng. Mặc dù Đảng và Nhà nước rất cố gắng và quyết tâm bài trừ tệ nạn tham nhũng, nhưng do có chính sách PCTN phù hợp để hạn chế sự lan tỏa không gian của tệ nạn này dẫn tới những chủ trương nói chung cũng như chính sách PCTN nói riêng dựa trên cách tiếp cận tham nhũng truyền thống, coi tham nhũng là những hiện tượng cá biệt, độc lập đã chưa đạt được hiệu quả như mong đợi của nhân dân cả nước. Luận văn sử dụng cách tiếp cận mới, từ dưới góc độ sự phụ thuộc không gian nhằm đem tới một đánh giá mới mẻ hơn đối với vấn đề nghiên cứu truyền thống này.
Một số vấn đề cơ bản về tham nhũng 1. Khái niệm cơ bản về tham nhũng Định nghĩa về tham nhũng được xem xét theo nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau. Xét theo góc độ phạm vi, các định nghĩa về tham nhũng có thể chia làm ba loại cơ bản, bao gồm: - Tham nhũng chỉ trong khu vực công như hiện tượng các quan chức tham nhũng ngay từ chính thể pháp lý (legislative corruption), hoặc như những hiện tượng mua quan bán chức ngay trong bộ máy công quyền. - Tham nhũng chỉ trong khu vực tư như những hành vi tham nhũng trong các doanh nghiệp tư nhân của các cán bộ lãnh đạo, nhằm đạt được lợi ích riêng của mình.
- Tham nhũng giữa khu vực công và khu vực tư là loại tham nhũng phổ biến và được tập trung nghiên cứu nhất hiện nay, thường được định nghĩa là việc sử dụng, lạm dụng quyền lợi công vào mục đích tư. 5 Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Ngân hàng Thế giới định nghĩa tham nhũng là việc lạm dụng chức vụ công để thu lợi riêng. Tuy nhiên, nghiên cứu của luận văn này có phạm vi trong quốc gia Việt Nam, vì vậy định nghĩa mà luận văn sử dụng sẽ là định nghĩa về tham nhũng của Việt Nam.
Theo khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định tại tham nhũng trong Luật PCTN năm 2018: “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Các đặc trưng cơ bản của tham nhũng cũng đã được quy định cụ thể theo pháp luật Việt Nam. Theo đó, tham nhũng có những đặc trưng bao gồm: - Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. - Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao.
- Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nguyên nhân của tham nhũng Nguyên nhân của tham nhũng cũng đã được chỉ ra trong “Tài liệu bồi dưỡng về PCTN (dành cho giáo viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp)” (2011) của Thanh tra Chính phủ. Theo đó, có thể chia ra làm hai loại là nguyên nhân và điều kiện khách quan và nguyên nhân và điều kiện chủ quan. Nguyên nhân và điều kiện khách quan bao gồm: Thứ nhất, Việt Nam là nước đang phát triển, trình độ quản lý còn lạc hậu, mức sống thấp, pháp luật chưa hoàn thiện.