Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học trồng cây dược liệu 1. Vị trí, vai trò của cây dược liệu trong y học 1. Trên thế giới Theo FAO (2003), dược liệu là các thành phẩm thảo dược gồm các chế phẩm thảo dược được sản xuất từ một hay nhiều loài thảo dược.
Thảo dược là các nguyên liệu thô của các loại cây dùng làm thuốc được thu hái trong tự nhiên hoặc trong trồng trọt như lá, hoa, quả, hạt, thân, gỗ, vỏ, rễ, hoặc bộ phận khác, có thể để nguyên vẹn, cắt thành mảnh nhỏ hay tán bột, dùng để sản xuất các loại thuốc và sản phẩm thảo dược [FAO, 2003]. Trên thế giới, cây dược liệu đã được phát hiện trong nhiều thập kỷ và được sử dụng trong y học cổ truyền cũng như y học hiện đại ở nhiều quốc gia với mục đích duy trì sức khoẻ và chữa bệnh [Ahn. WHO ước tính có khoảng 80% dân số thế giới dựa chủ yếu vào y học cổ truyền. Trong y học hiện đại, 25% đơn thuốc kê cho bệnh nhân có nguồn từ cây dược liệu [Smith Hall.
Trong một số hệ thống y học khác, cây dược liệu được sử dụng để chữa bệnh chủ yếu dựa trên cơ sở các thông tin về tác dụng chữa bệnh của các loài cây mà không qua thử nghiệm khoa học [Tilburt Jon. Cây dược liệu được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển của Châu Phi, Châu Á và khu vực Nam Mỹ do được đánh giá là rất có hiệu quả trong việc chữa trị bệnh với giá thành rẻ và luôn sẵn có. Giá trị xuất khẩu cây dược liệu hàng năm trên thế giới ước đạt 2,2 tỷ USD trong năm 2012 và tăng lên hàng trăm tỷ USD trong năm 2017. Một số quốc gia mặc dù không có hoặc có rất ít các qui định về y học cổ truyền, song các loại thuốc thảo dược vẫn được sử dụng một cách an toàn, hiệu quả thông qua khuyến cáo của mạng lưới điều phối viên của WHO [Ahn.
6 Vị trí, vai trò của cây dược liệu trong y học đã được thay đổi hoàn toàn vào thế kỷ XIX do việc ứng dụng và sử dụng các phương pháp phân tích hoá học. Các alcaloid được chiết xuất và phân lập từ sự kế thừa cây dược liệu, đầu tiên là với morphin từ cây anh túc (Papaver somniferum), sau đó là strychnos, ipecacuanha, quinine từ cây canh ki na (Cinchona). Chiết xuất thương mại các alcaloid tinh khiết bao gồm cả morphin từ cây dược liệu đã được bắt đầu vào năm 1826. Việc tổng hợp chất đầu tiên phát hiện được trong cây dược liệu bắt đầu với axit salicylic vào năm 1853.
Các loại thuốc phát hiện được từ cây dược liệu đóng vai trò quan trọng trong thế kỷ XX và thế kỷ XXI với các loại thuốc chống ưng thư có thành phần dược liệu chiết xuất từ cây thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) và cây dừa cạn ở bang Madagascar, Châu Phi [Atanasov et al, 2015]. Ở Việt Nam Sử dụng cây dược liệu để chữa trị bệnh đã có từ hàng nghìn năm trước đây. Tính đến cuối năm 2016, Việt Nam đã điều tra, thu thập được 1.296 bài thuốc dân gian chữa bệnh của các dân tộc H’Mông, Mường, Dao, Ka Tu, Vân Kiều, Tày, Nùng, Sán Dìu, Khơ Me. Những cây dược liệu và bài thuốc dân gian là cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu sàng lọc, phát triển và sản xuất các sản phẩm phòng và chữa trị nhiều loại bệnh.
Tuy nhiên, những thành phẩm này mới chỉ dừng ở dạng nguyên liệu thô, chưa trở thành hàng hoá nên sức cạnh tranh thấp [Bộ Y tế, 2017]. Với hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền từ trung ương đến các địa phương, nhu cầu sử dụng dược liệu trong điều trị bệnh và sản xuất thuốc là rất lớn. Tính đến cuối năm 2016, cả nước có khoảng 226 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu và thuốc cổ truyền. Nhu cầu sử dụng dược liệu cho sản xuất thuốc trong các năm từ 2011 - 2016 ước tính khoảng 14.000 tấn mỗi năm với khoảng 300 loại dược liệu.
Nhìn chung cho đến nay, sản lượng cây dược liệu trong trồng trọt ở Việt Nam còn rất thấp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thảo dược cho các cơ sở sản xuất dược liệu, sản xuất thuốc trong nước [Bộ Y tế, 2017]. Thành phần hoá học của cây dược liệu Nhìn chung các loài cây dược liệu đều có đặc điểm chung là tạo ra các hợp chất và chất giúp cho quá trình tiến hoá của chúng được thuận lợi như các chất chống lại các loài động vật có vú ăn cỏ, hoặc đối với trường hợp axít salicylic được coi như là một hormone bảo vệ cây trồng. Các hoá chất thực vật này có khả năng sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Hàm lượng và đặc tính biệt dược của các hoạt chất trong cây dược liệu đã hình thành nền tảng khoa học cho việc sử dụng và ứng dụng chúng trong y học hiện đại [Ahn.
Ví dụ như loài hoa thuỷ tiên (Narcissus) có 9 nhóm alcaloid trong đó có hoạt chất galantamine được cấp giấy phép sử dụng làm thuốc chống lại bệnh alzheimer. Về khoa học dinh dưỡng, hợp chất alcaloid có vị đắng và độc, chúng thường tập trung ở thân cây và các phần có nhiều khả năng bị tiêu thụ bởi động vật có vú ăn cỏ và sự xâm nhập của các loại ký sinh trùng [Bastida et al, 2006]. Các loài cây dược liệu khác nhau, các bộ phận khác nhau trong cùng một loài có các hợp chất sinh học khác nhau, song đều tập trung vào 4 nhóm hợp chất chính là polyphenols, alcaloids, glycosites và terpenes. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa xác định được tác dụng biệt dược, mức độ an toàn và hiệu quả của nhiều loài cây dược liệu có khả năng làm thuốc ở các quốc gia trên thế giới [Awuchi, Chinaza Godswill, 2019].
Polyphenols Polyphenols là hợp chất rất phổ biến trong các loài cây dược liệu có nhiều vai trò khác nhau trong cơ chế bảo vệ, chống lại động vật ăn thịt và sâu bệnh hại. Polyphenols gồm các hợp chất tannin và hormone tạo ra phytoestrogen [DaSilva, Cecilia, 2013]. Các loại cây dược liệu có chứa phytoestrogen như hồi (Illicium verum Hook.f), sắn dây (Pueraria tcànhsonii Benth), bạch chỉ (Angelica dahurica Benth) và thì là (Anethum graveolens L) đã được sử dụng thành công trong nhiều thế kỷ để điều trị các bệnh phụ khoa và rối loạn kinh nguyệt như khả năng sinh sản yếu, mãn kinh và kinh nguyệt không đều. Nhiều chất chiết xuất 8 polyphenolic từ hạt nho, vỏ cây thông biển hoặc ô liu đã được bán và quảng cáo như thực phẩm chức năng và mỹ phẩm [Muller Schwarze, Dietland, 2006].
Alcaloids Alcaloids là hợp chất có vị đắng, thường độc và rất phổ biến trong tự nhiên, được tìm thấy trong nhiều loại cây dược liệu. Alcaloids có nhiều phương thức và cơ chế hoạt động khác nhau như một loại thuốc. Các loại thuốc thuộc các nhóm khác nhau bao gồm scopolamine, hyoscyamine và atropine (từ cây bạch anh), caffeine (cây cà phê), cocaine (cây ca cao), thuốc truyền thống berberine (từ cây mahonia và cây berberis), ma hoàng (cây ma hoàng), morphine (cây hoa anh túc), quinidine và quinine (cây canh ki na), nicotine (cây thuốc lá). Cây hoa anh túc là nguồn cung cấp alcaloids codeine và morphine.
Cây atropa belladonna cung cấp các chất alcaloit tropane bao gồm scopolamine, hyoscyamine và atropine. Alkaloid nicotin từ thuốc lá liên kết trực tiếp với các thực thể nicotinic acetylcholine của cơ thể, do đó có tác dụng dược lý và sinh hóa [Elumalai A, Eswariah M, 2012]. Glycoside Các glycoside tim là những loại thuốc mạnh từ các cây thuốc như hoa huệ thung lũng và bao tay cáo. Glycoside bao gồm digitoxin và digoxin hỗ trợ tim đập và hoạt động giống như cơ chế của thuốc lợi tiểu.
Các glycoside anthraquinone được phát hiện trong các cây thuốc như cascara, alexandrian senna, đại hoàng. Thuốc nhuận tràng có nguồn gốc từ thực vật được sản xuất từ cây senna, lô hội và đại hoàng. Senna alexandrina có chứa glycoside anthraquinone, thường được sử dụng như một loại thuốc nhuận tràng cho mọi lứa tuổi. Bao tay cáo có digoxin là một glycoside tim.
Các cây dược liệu đã được sử dụng trong điều trị bệnh suy tim, rung nhĩ và cuồng nhĩ từ rất lâu trước khi xác định được glycoside [Elumalai A, Eswariah M, 2012]. Terpenes 9 Terpenes và terpenoit là được tìm thấy trong các loại cây thuốc khác nhau và trong thực vật có nhựa như cây lá kim. Terpenes có mùi rất thơm có tác dụng xua đuổi động vật ăn cỏ. Mùi hương của terpenes làm cho chúng trở nên hữu ích và thích hợp cho chiết xuất các loại tinh dầu, sản xuất hương thơm, nước hoa như hoa oải hương và hoa hồng.
Một số có công dụng chữa bệnh ví dụ như thymol, một chất khử trùng đã từng được sử dụng làm thuốc chống giun. Tinh dầu của cây xạ hương có chứa thymol monoterpene, một chất chống nấm và sát trùng. Thymol là một trong số các terpenes được tìm thấy trong các loài cây dược liệu [Wiart, Christopher, 2014]. Những thuận lợi và khó khăn trong việc trồng trọt cây dược liệu Cho đến nay đã có sự tranh luận kéo dài trên thế giới về sự phù hợp của dược liệu làm thuốc thu hái trong tự nhiên và trong trồng trọt.
Các nhà nghiên cứu cho rằng xu hướng thích dược liệu thu hái trong tự nhiên so với dược liệu trồng trọt là bị chi phối bởi nhận thức chủ quan hơn là bằng chứng khoa học. Các nhà nghiên cứu đã chứng thực điều này bằng việc đưa ra các dẫn chứng về hàm lượng hoạt chất làm thuốc trong dược liệu thu từ trồng trọt cao hơn so với dược liệu thu hái ngoài tự nhiên. Tuy nhiên, việc sản xuất thương mại cây dược liệu vẫn có thể vô tình dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường, làm mất đa dạng nguồn gen và ảnh hưởng đến bảo tồn các quần thể hoang dã trong tự nhiên nếu như tình trạng sản xuất tràn lan và không có các biện pháp quản lý phù hợp. Những ảnh hưởng bất lợi này là được khắc phục nếu việc trồng trọt được thực hiện trong bối cảnh bảo vệ và thúc đẩy các giá trị văn hoá về đa dạng sinh học và có thái độ tích cực đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học [Wiersum KF, Dold, 2006].
Một trường phái phê bình khác lập luận rằng, không thể chấp nhận việc sử dụng nguyên liệu cây thuốc trong trồng trọt để bào chế thuốc vì nó đi ngược lại với các giá trị của hệ thống chữa bệnh dân gian.