ĐẶT VẤN ĐỀ Túi ni lông được chế tạo lần đầu tiên vào những năm 1960, được sử dụng đầu tiên tại các siêu thị ở Mỹ vào năm 1977 và bắt đầu được sử dụng phổ biến tại các hệ thống bán lẻ trên thế giới thay thế các loại túi giấy vào những năm1980(1). Túi ni lông được sản xuất từ nhựa polyethylene có nguồn gốc từ dầu mỏ do đó quá trình phân hủy diễn ra rất chậm. Đến nay chưa xác định chính xác thời gian phân hủy của túi ni lông các nhà khoa học và giới sản xuất đều đồng ý quá trình phân hủy túi ni lông trong điều kiện tự nhiên có thể mất đến 1000 năm(1). Trên thế giới mỗi năm sản xuất ra hơn 400 triệu tấn nhựa, trong đó đa số là túi ni lông.
Mỗi năm có khoảng từ 1 đến 5 nghìn tỷ túi ni lông được tiêu thụ trên phạm vi toàn cầu, tương ứng với việc cứ mỗi phút trôi qua, thế giới tiêu thụ gần 10 triệu túi ni lông. Nếu việc tiêu thụ các sản phẩm từ nhựa tiếp tục diễn biến như hiện nay, cũng như công tác quản lý chất thải không được cải thiện, cho tới năm 2050, ước tính sẽ có khoảng 12 tỷ tấn rác thải nhựa tại các bãi chôn lấp và trong môi trường tự nhiên, trong đó đáng chú ý có đến một nửa được thải ra từ các quốc gia châu Á(2). Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường mỗi hộ gia đình Việt Nam thường sử dụng 5-7 túi ni lông/một ngày. Chỉ riêng 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM, trung bình một ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi ni lông(3).
Số lượng bao bì nhựa và túi ni lông sử dụng ngày càng gia tăng ở Việt Nam dẫn đến lượng thải bỏ tăng dần theo từng năm trong khi tỷ lệ chất thải bao bì và túi ni lông không được tái sử dụng, phải chôn lấp chiếm khoảng từ 5 - 8%, tương đương với khoảng 2,5 triệu tấn/năm(4). Với những ưu điểm về tính tiện dụng, nhẹ, bền chắc, túi ni lông hiện đang được sử dụng rộng rãi và quá mức cần thiết. Theo một nghiên cứu tại Guwahati Ấn Độ năm 2017 có tới 86% người dân hiện đang sử dụng túi ni lông trong các hoạt động mua sắm hàng hóa(5). Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Chu Huyền Xiêm được thực hiện tại phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng 9,07 túi/ngày, nhiều nhất là 18 túi và ít nhất là 1 túi(6).
Trong một nghiên cứu được thực hiện tại khu nhà trọ gần bệnh viện SUM của thành 2 phố Bhubaneswar thuộc bang Odisha ở miền Đông Ấn Độ kết quả có đến 50% phụ nữ độ tuổi 18-25 luôn luôn sử dụng túi ni lông để mua sắm thực phẩm (7). Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra số lượng túi ni lông sử dụng là rất lớn, trong khi đó chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể nào trong việc sử dụng túi ni lông. Sử dụng quá mức gây lãng phí tài nguyên thiên nhiên. Hơn nữa túi ni lông vô cùng khó phân hủy.
Khi đốt túi ni lông phát sinh nhiều khí độc hại, và khi thải bỏ bừa bãi ra môi trường gây tắc nghẽn cống rãnh, mất mỹ quan đô thị, là tác nhân lan truyền ô nhiễm và nguồn bệnh(1). Từ những ảnh hưởng của túi ni lông đến môi trường sẽ kéo theo ảnh hưởng đến sức khỏe con người.Chính vì vậy, giảm thiểu sử dụng rác thải nhựa đặc biệt là túi ni lông đang là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Giảm sử dụng túi ni lông hướng đến giảm thiểu chất thải nhựa, giảm gánh nặng chất thải khó phân hủy lên môi trường, tạo môi trường xanh – sạch – đẹp. Từ đó môi trường sống được cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người.
Thị trấn Bích Động là trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Là nơi tập trung đông dân cư đa dạng các ngành nghề. Theo khảo sát sơ bộ tại các hầu hết cửa hàng, chợ trên địa bàn đều sử dụng túi ni lông như một món đồ cần thiết trong quá trình mua bán sản phẩm. Hơn thế, tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thực hành của người nội trợ về việc sử dụng túi ni lông.
Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng túi ni lông của người nội trợ tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang năm 2020” nhằm tìm hiểu về thực trạng sử dụng túi ni lông của người nội trợ nhằm cung cấp các thông tin về mức độ sử dụng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng túi ni lông của nhóm đối tượng này, từ đó có cái nhìn tổng quan nhất về việc sử dụng túi ni lông của người nội trợ và đưa ra những khuyến nghị nhằm làm giảm mức độ sử dụng túi ni lông hàng ngày của người nội trợ. Hướng tới thực hiện giảm thiểu sử dụng rác thải nhựa. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành sử dụng túi ni lông của người nội trợ tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang năm 2020.
Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng túi ni lông của người nội trợ tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu 1. Định nghĩa về túi ni lông Túi ni lông (hay túi xốp) là từ thông dụng được dùng để chỉ loại bao bì nhựa mỏng có quai xách thường được dùng để chứa đựng hàng hóa.
Túi ni lông được sản xuất từ nhựa polyethylene là nhựa nhiệt dẻo được sử dụng phổ biến trên thế giới, được tạo ra từ phản ứng trùng hợp khí ethylene (một sản phẩm từ quá trình cracking dầu mỏ) nguồn gốc từ dầu mỏ và do đó quá trình tự phân hủy của nó diễn ra rất chậm(1). Năm 1965, Công ty Celloplast của Thụy Điển đưa ra thiết kế mẫu túi được xem là nguồn gốc của các loại túi ni lông hiện nay. Đến cuối những năm 1970, túi ni lông bắt đầu được sử dụng tại các cửa hàng bán lẻ (ở Mỹ) và trở nên phổ biến tại các hệ thống bán lẻ trên thế giới, thay thế các loại túi giấy vào những năm 1980(8). Phân loại túi ni lông Túi ni lông được sản xuất từ nhựa HDPE (high density polyethylene resin),LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin)được xem là an toàn, không độc(9).
HDPE: túi polyethylene tỷ trọng cao hay còn gọi túi xốp mỏng, không dán nhãn, thường dùng trong các siêu thị, cửa hàng thức ăn nhanh và đại lý sản xuất(9). LDPE: là những túi dày hơn, có dán nhãn dùng trong cửa hàng bán những sản phẩm chất lượng cao(9). Đặc tính của túi ni lông Nhờ những đặc tính của nhựa Polyethylene, túi ni lông có những ưu điểm khiến chúng được sử dụng ngày càng phổ biến: trong suốt, mềm dẻo, trơ; Chống thấm nước và hơi nước tốt; Mỏng nhưng có khả năng chịu lực tốt (trên cân nặng); Chịu được dao động nhiệt độ cao (trong thời gian ngắn). HDPE thường dùng để sản xuất túi ni lông có độ trong, độ bóng bề mặt ở mức trung bình, độ mềm dẻo kém, độ cứng nhất định, dễ gập nếp, tạo ra tiếng động sột 5 soạt rõ ràng khi cọ xát.
Túi HDPE thường là túi đựng rác, túi ni lông đựng hàng chợ, túi siêu thị và cửa hàng nhỏ(9). Túi ni lông làm màng LDPE có độ trong, bề mặt mịn, bóng hơn so với túi xốp HDPE. Túi LDPE thường gặp các loại túi PE khổ lớn dùng để đựng hàng hóa có trọng lượng tương đối thường in quảng cáo sản phẩm, in logo, thương hiệu cho các doanh nghiệp(9). Tình hình tiêu thụ túi ni lông trên thế giới và Việt Nam Theo công bố của Liên hợp quốc, trên thế giới trung bình sử dụng khoảng 500 tỷ túi ni lông và mỗi phút có 1triệu chai nhựa được sử dụng, trong đó có ít nhất 13 triệu tấn rác thải nhựa và ni lông bị đẩy vào đại dương.
Lượng rác thải nhựa và túi ni lông chiếm khoảng 10% tổng lượng rác thải do con người tạo ra(10). Tại Châu Âu, khoảng 100 tỷ túi ni lông được tiêu thụ một năm. Trung bình một người dân sử dụng 200 túi một năm(11).Tại YeMen, theo một nghiên cứu về ảnh hưởng của túi ni lông đến môi trường năm 2014 mức tiêu thụ chính là các túi nhỏ dày khoảng 15 và dùng đóng hàng tiêu dùng với trọng lượng 1000gram(12). Ở New Zealand năm 2018 ước tính 154 túi/người/năm túi nhựa sử dụng một lần cho việc đi siêu thị, chiếm khoảng 0,01% trọng lượng của tổng lượng chất thải tại các bãi chôn lấp có tính thuế(13).Tại Jordan khoảng 3 tỷ túi ni lông được tiêu thụ mỗi năm tính ra trung bình một người sử dụng khoảng 500 túi ni lông(14).
Tại Singapore ước tính một lần đi siêu thị một gia đình thường sử dụng từ 2-4 túi ni lông và 820 triệu túi ni lông được sử dụng trong các siêu thị hàng năm(15). Tại Việt Nam, theo khảo sát của Cục Kiểm soát ô nhiễm (TCMT) năm 2011 đối với 263 người sinh sống tại 5 tỉnh thành phố đại diện cho 3 vùng miền cho thấy gần 50% số hộ sử dụng hơn 8 bao bì ni lông/ngày; 35,1% số hộ sử dụng trên 10 bao bì. Tính trung bình 223 bao bì/tháng, tương đương với 1kg bao bì ni lông/tháng trong đó đến 98,7% bao bì ni lông khó phân hủy(16). Ảnh hưởng của túi ni lông đến môi trường và sức khỏe 1.
Ảnh hưởng tới môi trường Các vấn đề môi trường liên quan đến túi ni lông bắt nguồn từ việc sử dụng quá mức cần thiết và thải bỏ bừa bãi túi ni lông. Việc thải bỏ bừa bãi túi ni lông gây ra 6 nhiều vấn đề môi trường: Túi ni lôngvương vãi khắp nơi làm xấu cảnh quan, mất mỹ quan đôthị(1); Tích tụ trên mặt đất hoặc khi bị vùi lấp trong đất, túi ni lông gây thoái hóa đất do cản trở quá trình lưu thông tự nhiên của nước và không khí vào đất, cản trở sự phát triển của hệ thực vật, dẫn đến xói mòn; làm thay đổi tính chất vật lý của đất, đất không giữ được nước, dinh dưỡng, ngăn cản oxy đi qua đất ảnh hưởng đến sinh trưởng cây trồng(1, 8, 9). Đối với môi trường biển, Việt Nam xếp thứ 4 trong danh sách các nước được đánh giá có lượng chất thải nhựa ra biển cao nhất khoảng 0,28-0,73 triệu tấn/năm sau Trung Quốc, Indonesia, Philipines(17).