ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vị thành niên là những ngƣời từ 10 – 19 tuổi. Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng đánh dấu sự thay đổi toàn diện cả về thể chất, tinh thần, khả năng tƣ duy, phát triển cảm xúc và giao tiếp xã hội ở mỗi con ngƣời. Thay đổi rõ rệt nhất ở lứa tuổi VTN là các vấn đề về sức khỏe sinh sản, bao gồm cả các biểu hiện về dậy thì. Bất cứ một vấn đề về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này đều có thể ảnh hƣởng và để lại hậu quả nặng nề cho cuộc sống về sau.
Việt Nam có tỉ lệ nhóm tuổi VTN chiếm 17,2%, dân số Việt Nam là dân số trẻ. Theo kết quả của cuộc Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ hai (SAVY2), tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên trung bình của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay là 18,1 tuổi, con số này đã giảm đi 1,5 năm so với 19,6 tuổi theo kết quả của nghiên cứu này lần thứ nhất. Điều đáng nói ở đây là thanh thiếu niên có xu hƣớng QHTD sớm hơn nhƣng kiến thức về mang thai cũng nhƣ các biện pháp đảm bảo an toàn tình dục còn hạn chế [7]. Điều này có thể dẫn đến nhiều nguy cơ nhƣ có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và lây truyền các bệnh qua đƣờng tình dục… Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng , sự giao lƣu với các nền văn hóa cởi mở về tình dục có ảnh hƣởng mạnh tới quan niệm, lối sống của VTN, hơn nữa thanh thiếu niên tại thành thị nói chung và tại Hà Nội nói riêng có thể dễ dàng tiếp cận với các thông tin về giới tính và SKSS qua các kênh nhƣ: truyền hình, sách báo, băng đĩa, radio, internet [6],[7].Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của các kênh truyền thông đó, tuy nhiên bên cạnh những nguồn thông tin chính thống đáng tin cậy, VTN cũng có thể tiếp cận với không ít những thông tin chƣa đƣợc kiểm soát, không phù hợp với lứa tuổi.
Hậu quả là có thể dẫn đến sự hiểu biết không đúng, thái độ chƣa phù hợp và lâu dài hình thành những hành vi ảnh hƣởng không tốt tới sức khỏe của các em. Học sinh lứa tuổi THCS là giai đoạn đầu của tuổi VTN, thời kỳ mà các em đang chuẩn bị hoặc vừa bƣớc vào tuổi dậy thì, cơ thể đang dần có sự biến đổi rõ rệt mang 2 các đặc trƣng về giới tính, việc trang bị những kiến thức cần thiết về giới tính và SKSS cho học sinh lứa tuổi này là giúp các em biết cách tự chăm sóc và bảo vệ bản thân mình trƣớc những nguy cơ có thể ảnh hƣởng đến sự phát triển giới tính và sức khỏe. Nghiên cứu SAVY đã chỉ ra rằng, môi trƣờng học đƣờng cũng là yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển của VTN [6],[7]. Hiện nay, các môn học tại nhà trƣờng đã có những đáp ứng kịp thời trong giáo dục sức khỏe VTN, song vẫn chƣa đủ.
Các môn học và chƣơng trình học về SKSS không có sẵn ở các trƣờng học và chƣa có tính sƣ phạm cao[9]. Chính vì vậy, VTN nói chung, đặc biệt là học sinh lứa tuổi THCS chƣa đƣợc cung cấp các kiến thức về SKSS một cách hệ thống và đầy đủ. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn trƣờng THCS Hoàn Kiếm – một trƣờng nằm tại trung tâm thành phố Hà Nội để tiến hành nghiên cứu “ Kiến thức, thái độ và nhu cầu tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh trường THCS Hoàn Kiếm, Hà Nội năm 2012” Với mục đích mô tả thực trạng hiểu biết và thái độ của học sinh ở lứa tuổi cấp 2 đối với các vấn đề SKSS VTN, đồng thời tìm hiểu những nhu cầu của các em với việc đƣợc tiếp cận thông tin liên quan đến vấn đề này. Từ đó đƣa ra những bàn luận, khuyến nghị phù hợp, giúp đáp ứng tốt hơn các nhu cầu SKSS của các em, góp phần nâng cao SKSS VTN nói chung và hiểu biết về SKSS VTN lứa tuổi THCS nói riêng.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ của học sinh trƣờng THCS Hoàn Kiếm về các vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên năm 2012. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về các vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh trƣờng THCS Hoàn Kiếm. Xác định các nhu cầu tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh trƣờng THCS Hoàn Kiếm, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội năm 2012.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Vị thành niên Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN là những ngƣời trong độ tuổi từ 10- 19. Tuổi VTN chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu (tiền VTN): 10 - 13 tuổi; Giai đoạn giữa (trung VTN): 14 - 16 tuổi; Giai đoạn cuối (hậu VTN): 17 - 19 tuổi.
Việc phân định này cần thiết để kết hợp phát triển sinh học và tâm lý xã hội từng thời kỳ. Nhƣ vậy, giai đoạn này đƣợc hiểu một cách đơn giản là giai đoạn ở sau lứa tuổi thiếu nhi và trƣớc tuổi trƣởng thành[4]. Vị thành niên là một giai đoạn, một thời kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi con ngƣời với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trƣởng nhanh chóng để đạt tới sự trƣởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội và định hình nhân cách để có thể tự chịu trách nhiệm trong cuộc sống của bản thân sau này. Khái niệm “Vị thành niên” là một trong những khái niệm đƣợc hiểu một cách đa nghĩa và dễ gây tranh luận nhiều về cả nội hàm lẫn ngôn từ của nó trong tƣ duy xã hội học.
Tùy vào vị trí tiếp cận, góc nhìn cũng nhƣ chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà vị thành niên lại đƣợc giải thích theo một cách thức riêng[17]. Tuổi dậy thì Tuổi dậy thì là một thời kỳ ngắn kéo dài khoảng 5 năm, kể từ lúc một em bé bƣớc vào tuổi thanh thiếu niên. Thời kỳ này có tên gọi riêng, vì đây là những năm tháng trƣởng thành về mặt sinh học của bé trai và bé gái. Đây là thời kỳ sinh trƣởng và thay đổi nhanh của các tỷ lệ cơ thể.
Bên cạnh những thay đổi có thể nhìn thấy đƣợc này của cơ thể, tất cả các cơ quan bên trong, kể cả các cơ quan sinh sản lẫn bộ não, đều phát triển và trƣởng thành [4],[26]. Theo sinh lí, tuổi dậy thì là thời kỳ trƣởng thành sinh dục, nghĩa là bắt đầu có khả năng sinh con. Ở trẻ nữ, khi bắt đầu tuổi dậy thì là trẻ nữ có kinh nguyệt lần đầu, và ở trẻ nam là hiện tƣợng mộng tinh hay xuất tinh lần đầu tiên [4]. Điều này thƣờng đi cùng 5 với những thay đổi cảm xúc với bạn bè khác giới, thể hiện sự trƣởng thành về mặt sinh học, báo hiệu khả năng có con và đƣợc coi là hiện tƣợng sinh lý bình thƣờng.
Sức khỏe sinh sản Khái niệm SKSS đã đƣợc chấp nhận và đƣợc chính thức hóa trong phạm vi toàn thế giới từ “Hội nghị quốc tế lần thứ tƣ về Dân số và phát triển”, họp tại CaiRo, Thủ đô của Ai Cập, tháng 9 năm 1994 (Hội nghị CaiRo). Trong chƣơng trình hành động của Hội nghị CaiRo đã định nghĩa: “SKSS là trạng thái hoàn toản thoải mái về thể chất, tinh thần, và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh tật hay khuyết tật của bộ máy đó”. Nhƣ vậy, SKSS bao gồm: - Thể chất: Là bộ máy sinh sản phải đƣợc bình thƣờng và khỏe mạnh về hoạt động tình dục và chức năng sinh sản. - Tinh thần: Là sự thoải mái, bằng lòng, không lo lắng hay băn khoăn về bộ máy sinh sản.
- Xã hội: đƣợc xã hội tôn trọng và đối xử công bằng về các quyền sinh sản và tình dục[4][28]. Sức khỏe sinh sản vị thành niên SKSS VTN là những nội dung vể SKSS liên quan đến lứa tuổi VTN bao gồm sức khỏe và dinh dƣỡng, những hiểu biết về cách giữ gìn sức khỏe khi có thai; biến đổi của cơ thể trong giai đoạn mang thai; có kiến thức về tình dục học và sức khỏe tình dục. Ngoài ra, còn những vấn đề về tình yêu, quan hệ tình dục, phòng tránh thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở tuổi SKSS, viêm nhiễm đƣờng sinh dục bao gồm cả HIV/AIDs,. Một khái niệm khác:”Sức khỏe sinh sản vị thành niên là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh và phát triển lành mạnh của bản thân mỗi vị thành niên về thể chất, tinh thần và xã hội.
Đó là sự phát triển toàn diện và hoàn thiện hệ thống cơ quan sinh sản, sự phát triển năng lực tình dục, sự phát triển một cách hài hòa về mặt nhân cách và tâm lý của tuổi dậy thì, tình bạn, tình yêu và tình dục”[4]. Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên Là giáo dục VTN về các vấn đề tình dục và SKSS, cùng với những khía cạnh khác nhau của vấn đề này ( nhƣ thể chất, tình cảm, quan hệ xã hội. Các nội dung giáo dục SKSS VTN bao gồm: giáo dục sinh lý kinh nguyệt. Giáo dục sinh lý thụ thai và các biện pháp tránh thai.
Những điều kiện và các dấu hiệu có thai. Giáo dục vệ sinh em gái, vệ sinh kinh nguyệt. Giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh. Những nguy cơ có thai ngoài ý muốn.
Giáo dục sinh hoạt tình dục, bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản kể cả nhiễm HIV/AIDS [4],[26]. Tình dục Có thể có nhiều cách định nghĩa về tình dục, bởi vì tình dục là thuộc về phƣơng diện văn hóa cụ thể, những định nghĩa và ngôn ngữ có thể khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau và các cộng đồng khác nhau. Tình dục của con ngƣời bao gồm sự hiểu biết về tình dục, sự tin tƣởng, thái độ, giá trị và từng hành vi của cá nhân. Về phƣơng diện của nó, bao gồm cả giải phẫu học , sinh lý học và sinh hóa học của hệ thống phản ứng tình dục; về tính đồng nhất, sự định hƣớng, vai trò và nhân cách, sự suy nghĩ, tình cảm và mối quan hệ.
Sự biểu hiện của tình dục đƣợc chi phối bởi sự quan tâm đến đạo đức, tâm hồn, văn hóa và lƣơng tâm[4].