Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược về tuổi vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Một số khái niệm * Vị thành niên: Vị thành niên (VTN) là giai đoạn trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự trưởng thành nhanh chóng để đạt được sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội và định hình nhân cách đểcó thể lãnh trách nhiệm sau này. Đây là giai đoạn được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ con và người lớn [28].
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì vị thành niên là lứa tuổi từ 10 - 19, thanh niên (TN) thì có độ tuổi từ 15 - 24 và thanh niên trẻ là người có độ tuổi từ 10 – 24 [1, 9, 19]. Tuổi vị thành niên chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn tiền VTN: 10 - 13 tuổi, giai đoạn trung VTN: 14 - 16 tuổi, giai đoạn hậu VTN: 17 - 19 tuổi [19]. Độ tuổi 15 - 19 là giai đoạn thay đổi tâm sinh lý và tình cảm nhiều nhất ở mỗi cá nhân. Sự xuất hiện tình yêu, tình dục ở VTN Việt Nam hiện nay chủ yếu rơi vào nhóm tuổi này [35].
Cùng với sự gia tăng dân số, số lượng VTN ngày càng tăng, cao nhất là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, VTN chiếm 1/4 dân số, tứclà khoảng 1,2 tỉ VTN [9, 37, 38]. Theo cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2016, ở Việt Nam 16,33% VTN từ 10 - 19 tuổi, khoảng 15,251 triệu người [20]. * Sức khỏe sinh sản (SKSS): Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cairo năm 1994 định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” [8, 42]. * Sức khỏe sinh sản vị thành niên (SKSS VTN): “Là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến cấu tạo và hoạt động của bộ máy sinh sản ở tuổi vị thành niên, chứ không chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó”.
Những đặc điểm dậy thì ở tuổi vị thành niên, nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản và hạn chế tiếp cận các lĩnh vực sức khỏe sinh sản của vị thành niên Việt Nam 1. Những thay đổi về sinh lý ở tuổi vị thành niên Với trẻ nữ 3 - Về thời gian: Bắt đầu từ khi 8-13 tuổi, trung bình 15 tuổi và hoàn tất dậy thì vào thời điểm trẻ được 13-18 tuổi; - Về phát triển cơ thể, dưới tác dụng của các hoocmon sinh dục: thay đổi ởvú (núm vú nhô lên rõ hơn, hình thành quầng vú và bầu vú, phát triển đầy đủ sau 18 tháng); phát triển xương chậu (khung chậu của nữ tròn hơn và rộng hơn khung chậu của nam); xương đùi, các mô mỡ phát triển hình thành đường cong cơ thể; phát triển chiều cao, cân nặng; bộ phận sinh dục phát triển (âm hộ, âm đạo to ra, tử cung và buồng trứng phát triển); buồng trứng thực hiện chức năng sinh sản bằng việc xuất hiện kinh nguyệt; - Về thay đổi sinh lý: bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt. Trong khoảng một năm đầu khi có kinh, kinh nguyệt không đều và thời gian hành kinh cũng thay đổi [8, 42]. Với trẻ nam - Về thời gian: bắt đầu dậy thì khi trẻ được 10-15 tuổi; - Về thay đổi cơ thể: vỡ tiếng; có ria mép xuất hiện và râu ở cằm; phát triển chiều cao và cân nặng; tuyến bã và tuyến mồ hôi phát triển, xương ngực và vai phát triển; các cơ rắn chắc hơn; hình thành trái cổ do sụn giáp phát triển; dương vật và tinh hoàn to lên; - Về thay đổi sinh lý: tinh hoàn hoạt động sinh ra hoocmon sinh dục nam và tinh trùng; biểu hiện xuất tinh, những lần đầu là mộng tinh [8, 42].
Những biến đổi về tâm lý trong thời kỳ VTN: Tùy theo từng giai đoạn phát triển của thời kỳ VTN mà có những biến đổi về tâm lý khác nhau. * Thời kỳ VTN sớm: Trẻ bắt đầu ý thức mình không còn là trẻ con, muốn được độc lập, muốn được tôn trọng, được đối xử bình đẳng như người lớn, bắt đầu hú trọng đến các mối quan hệ bạn bè, quan tâm đến hình thức bên ngoài và những thay đổi của cơ thể. Trẻ xuất hiện tò mò, thích khám phá, thử nghiệm, bắt đầu phát triển tư duy trừu tượng và có những hành vi mang tính thử nghiệm, bốc đồng [8, 42]. * Thời kỳ VTN giữa: Trẻ tiếp tục quan tâm nhiều hơn đến hình dáng cơ thể, tỏ ra độc lập hơn, thích tự mình quyết định, có xu hướng tách ra khỏi sựkiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính, sở thích cá nhân.
Trẻ chịu ảnh hưởng nhiều của bạn bè đồng trang lứa, quan tâm đến bạn khác giới, dễ ngộ nhận tình bạn khác giới với tình yêu.Trẻ tiếp tục phát triển tư duy trừu tượng, kĩ năng phân tích, bắt đầu nhận biết hậu quả của hành vi, có xu hướng muốn thử thách các qui định, các giới hạn mà gia đình hay xãhội đặt ra [8, 42]. 4 * Thời kỳ VTN muộn: Trẻ có nhu cầu cao về khẳng định sự độc lập và tạo dựng hình ảnh bản thân tương đối ổn định, khả năng đánh giá và giải quyết vấn đề, cách suy nghĩ, nhận xét và ứng xử chín chắn hơn. Ảnh hưởng của nhóm bạn bè giảm dần, trẻ dần quay lại chú trọng mối quan hệ gia đình, mối quan hệ riêng tư, tin cậy giữa 2 người hơn quan hệ theo nhóm. Trẻ định hướng cuộc sống, nghề nghiệp rõ ràng hơn và biết phân biệt tình bạn và tình yêu, cách nhìn nhận tình yêu mang tính thực tế hơn, có xu hướng muốn thử nghiệm tình dục [8, 42].
Những chủ đề cần tư vấn về giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên - Đặc điểm phát triển cơ thể, tâm-sinh lý tuổi VTN. - Kinh nguyệt bình thường và bất thường tuổi VTN. - Thai nghén và sinh đẻ ở tuổi VTN. - Các biện pháp tránh thai ở tuổi VTN.
- Tiết dịch âm đạo hoặc niệu đạo ở tuổi VTN. - Mộng tinh, thủ dâm. - Nhiễm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lấy truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS. - Tình dục an toàn và lành mạnh.
- Bạo lực và lạm dụng tình dục. - Lạm dụng chất gây nghiện [3]. Các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe vị thành niên - Kinh nguyệt và xuất tinh ở vị thành niên. - Những đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý trong thời kỳ vị thành niên.
- Tình dục an toàn và đồng thuận. - Các biện pháp tránh thai cho vị thành niên và thanh niên. - Mang thai ở vị thành niên. - Vị thành niên và thanh niên với vấn đề bạo hành.
- Kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của vị thành niên - Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên và thanh niên. - Thăm khám sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên. - Sử dụng chất gây nghiện ở vị thành niên và thanh niên - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm vị thành niên/thanh niên yếu thế. - Tư vấn sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên [3].
Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên 5 Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên phải là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của những thanh thiếu niên trong lứa tuổi này một cách tế nhị và có hiệu quả, có thể tiếp cận được, giá cả phù hợp, an toàn, phục vụ theo những cách thứcmà vị thành niên chấp nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của vị thành niên và khuyến khích các em trở lại cơ sở y tế khi cần, cũng như giới thiệu dịch vụ với bạn bè. Dịch vụ này sử dụng tối đa các nguồn lực y tế nhằm đảm bảo quyền lợi và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả nhất [3]. Những rào cản khiến vị thành niên khó tiếp cận các lĩnh vực sức khỏe sinh sản tại Việt Nam - Quan niệm của xã hội về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên còn hạn chế. - Các chính sách, chiến lược về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên còn ít, chưa cụ thể, chưa có nhiều chính sách động viên vị thành niên.
- Thiếu các cơ sở cung cấp dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên. - Thái độ định kiến của thầy cô giáo, cha mẹ, cộng đồng đối với việc cungcấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. - Đa số cán bộ cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản còn chưa được huấn luyệnđể tiếp xúc và làm việc với vị thành niên [3]. Tình dục an toàn và các biện pháp tránh thai 1.
Tình dục an toàn ̵ Tình dục an toàn là những hành vi tình dục bao gồm cả 2 yếu tố: không có nguy cơ nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn. ̵ Về phương diện tránh thai, tình dục an toàn gồm sử dụng biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả và đúng cách. ̵ Về phương diện phòng nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục,tình dục an toàn có thể chia thành 3 nhóm: + Tình dục an toàn (không có nguy cơ hoặc nguy cơ rất ít): mơ tưởng tình dục, tự mình thủ dâm, vuốt ve trên mặt da lành lặn, ôm bạn tình, kiềm chế không quan hệ tình dục, chung thủy với một bạn tình, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục. + Tình dục an toàn tương đối (nguy cơ trung bình): quan hệ tình dục theo đường hậu môn có sử dụng bao cao su, bằng miệng với âm đạo hay với dương vật, bằng tay với âm đạo.
6 + Tình dục không an toàn (nguy cơ cao): quan hệ tình dục theo đường âm đạo hay hậu môn mà không dùng bao cao su [40]. Các biện pháp tránh thai (BPTT) BPTT là các biện pháp mà các cặp vợ chồng sử dụng nhằm kiểm soátviệc sinh đẻ, để tránh có thai ngoài ý muốn [2]. Ngày nay một số BPTT còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòngtránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục.