Chương I: Qua việc tìm hiểu và tham khảo nhiều nguồn tài liệu trong va ngoài nước, nhóm tác giả tổng hợp những thành tựu, kết quả mà các công trình nghiên cứu đi trước đã đạt được với nội dung liên quan đến đề tài. Từ đó, nhóm tiếp tục triển khai những van đề chưa được khai thác dé xác định phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tai. Chương II: Nhóm tác giả đưa ra những cơ sở lý luận về mô hình CVNH. Dựa trên chủ thuyết của các tác giả trong và ngoài nước, các cơ sở lý luận được đưa ra dé làm rõ đặc điểm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình CVNH.
Từ đó, chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của mô hình này. Đồng thời, làm rõ được sự khác biệt giữa mô hình CVNH và một số hình thức vay thông thường. 4 Chương III: Nhóm tác giả tìm hiểu quy định pháp luật về mô hình CVNH của một số quốc gia trên thế giới; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ thực tiễn của các quốc gia đi trước. Chương IV: Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu hàng lang pháp lý của các hình thức vay thông thường nói chung và mô hình CVNH nói riêng tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhóm đi sâu phân tích thực tiễn quản lý mô hình CVNH tại Việt Nam. Chương V: Từ những phân tích, đánh giá ở các chương trước, nhóm đưa ra một số dé xuất về định hướng phát triển cũng như các kiến nghị dé xây dựng và hoàn thiện pháp luật về mô hình CVNH tại Việt Nam. TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra sự thay đổi rất lớn trong thói quen vay vốn, tiêu dùng của người dân. Trước xu thé đó, mô hình CVNH (Peer to Peer Lending - P2P Lending) phát trién mạnh mẽ và trở thành đối tượng được các nhà lập pháp, cơ quan quản lý, các học giả, nhà nghiên cứu, NDT trong và ngoài nước dành nhiều sự quan tâm.
Ở Việt Nam, CVNH được đánh giá là một lĩnh vực tương đối mới và tiềm ấn rất nhiều rủi ro vì mô hình này đang nằm trong khoảng hở của thê chế luật pháp, hành lang pháp lý còn bỏ ngỏ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu những van đề lý luận và thực tiễn về CVNH, về cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động CVNH là một nhiệm vu cấp thiết. Trong khuôn khổ phạm vi của đề tài, việc khảo sát các công trình nghiên cứu về mô hình CVNH sẽ được tập trung vào hai nội dung chính sau đây: i) Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến mô hình CVNH ii) Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến mô hình CVNH Qua quá trình tông hợp, đánh giá, nhóm tác giả chia các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan dén đê tai như sau: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình CVNH 1.
Các công trình nghiên cứu trong nước Hoạt động CVNH tại Việt Nam mới phát triển và chưa có khung pháp lý điều chỉnh nên các công trình nghiên cứu chuyên sâu về CVNH chưa nhiều, chủ yếu là các bài báo mang, tạp chí. Hai nghiên cứu nồi bật phải kế đến là: (i) Luận văn Thạc sĩ: “Hoat động CVNH (P2P Lending) - Kinh nghiệm phat triển trên thé giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tac giả Trần Thu Phương. Khi tiến hành nghiên cứu về hình thức CVNH (P2P Lending), đầu tiên, tác giả chỉ ra lý luận chung về hoạt động CVNH; sau đó đi vào phân tích thực trạng phát triển của hoạt động CVNH tại một số nước trên thế giới như Anh, Mỹ và Trung Quốc; và từ những vấn đề trên tác giả rút ra kết luận để đề xuất một số giải pháp phát trién cho hoạt động vay ngang hàng tại Việt Nam. Theo quan điểm của tác giả, thông tin về hoạt động CVNH ở Việt Nam còn nhiều hạn chế nên cần học hỏi kinh nghiệm phát triển hoạt động CVNH từ các quốc gia di trước dé có biện pháp phát trién mô hình nay tại Việt Nam.
(ii) Luận văn Thạc sĩ: “CNH (Peer - to - Peer lending) - Kinh nghiệm quốc tế va dé xuất cho Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tùng. Xuất phát từ việc nghiên cứu mô hình và các đặc điểm của hoạt động CVNH, để tìm ra những rủi 6 ro tồn tại và có chính sách kiểm soát mô hình hợp lý; bài nghiên cứu của tác giả tập trung vào tìm hiểu sự hình thành và phát triển của nền tảng CVNH tại các quốc gia trên thế giới, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu dé áp dung vào nền tảng CVNH tại thị trường Việt Nam; qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế quan lý nham hướng đến mục tiêu an toàn cho hệ thống tài chính tại Việt Nam. Hiện tại chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu như luận văn, luận án hay các bài nghiên cứu tong hợp về khung pháp lý điều chỉnh mô hình CVNH tai Việt Nam. Phan lớn các tài liệu xoay quanh van dé này là các bài báo trên các tạp chí như: (i) Bai báo “CVNH- kinh nghiệm thé giới và hàm ý cho Việt Nam” của PGS.Nguyễn Văn Hiệu trên Tạp chí Ngân hàng số 22/2018.
Trong bài viết tác giả dành phần lớn dung lượng để phân tích về thực trạng quản lý hoạt động CVNH tại các quốc gia trên thế giới. Tác giả phân tích khái quát và chia cách thức quản lý hoạt động CVNH của các quốc gia trên thé giới thành các nhóm và tập trung phân tích rõ khung pháp lý điều chỉnh mô hình CVNH tại Anh, Mỹ và Trung Quốc. Từ những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về cách thức quản lý hoạt động CVNH, tác giả đưa ra kiến nghị dé hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh mô hình CVNH tại Việt Nam nhăm tạo điều kiện và khuyến khích hơn nữa sự phát triển của mô hình tài chính mới nà tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng dành một phan dung lượng dé phân tích về khái niệm, quy trình và những rủi ro tiềm ân trong hoạt động CVNH.
(ii) Bài bao “Sự cần thiết xây dựng khung pháp lý đối với hoạt động CVNH (Peer to Peer Lending) tại Việt Nam” của ThS. Nguyễn Nam Trung (Giảng viên Khoa Luật, Học viện Cán bộ Thành phé Hồ Chi Minh) trên Tap chí công thương ngày 24/06/2020. Trong bài báo, tác giả dành một khối lượng nội dung đáng ké dé phân tích nguyên nhân dẫn đến sự phát triển mang tinh tất yêu của mô hình "CVNH Peer to Peer Lending" (P2P Lending). Sự bùng nỗ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như sự gia tăng mạnh mẽ về nhu cầu vay vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng cùng các rào cản về quy trình, thủ tục cấp tín dụng của các kênh tín dụng chính thức đã dẫn đến sự phát triển mang tính tất yêu của mô hình P2P Lending tại Việt Nam.
Tuy nhiên, dù xuất hiện và phát triển ở Việt Nam chưa lâu nhưng P2P Lending đã bộc lộ rõ những rủi ro tiềm ân đối với NDT, bên đi vay, sự an toàn tài chính cũng như sự phát triển ôn định của thị trường tin dụng. Từ những phân tích rủi ro mà mô hình này đem lại, ông chỉ ra sự cần thiết trong việc ban hành các chính sách, pháp luật để quản lý, kiểm soát, nhằm đảm bảo an toàn 7 tài chính, trật tự an toàn xã hội, quyên và lợi ich hợp pháp của các bên tham gia mô hình này. (iii) Bai báo “Một số khía cạnh pháp lý về hoạt động CVNH tại Việt Nam” của ThS. Lương Thi Linh Chi, Nguyễn Thị Thúy Hường (Trường Đại học Mở Hà Nội) trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật.
Trong bài viết này, nhóm tác giả khái quát về hoạt động CVNH, đặc điểm, những thuận lợi và khó khăn của kênh tài chính này đối với các chủ thé liên quan. Đồng thời, qua bài viết này tác giả đã phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn và cơ chế pháp lý đang điều chỉnh hoạt động CVNH tại Việt Nam qua kinh nghiệm pháp lý thực tiễn của Trung Quốc. Từ những phân tích, đánh giá đó, nhóm tác giả đã đưa những đề xuất xây dựng khung pháp lý về CVNHở Việt Nam dé ngăn chặn hành vi phạm tội như rửa tiền, tài trợ khủng bố, cho vay nặng lãi, hoạt động tín dụng đen, cho vay cầm đồ thực hiện lợi dụng biến tướng dưới hành vi CVNH gây ra, giảm thiểu rủi ro pháp lý cho cả bên vay và bên đi vay. (iv) Bài báo “Thực trạng hoạt động CVNH tại Việt Nam” của ThS.
Nguyễn Mạnh Hùng và ThS. Tạ Thu Hồng Nhung (Trường Đại học Ngân hang TP. Hồ Chí Minh) trên Tạp chí công thương số 25, tháng 10 năm 2020. Trong bai viết này, nhóm tác giả chủ yếu phân tích thực trạng của các công ty P2P Lending tại Việt Nam hiện nay từ sự tác động của cuộc cách mạng 4.0 đến mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội.
Ngành Tài chính ngân hàng tại Việt Nam cũng đang đứng trước những “làn sóng” hội nhập, đổi mới và ứng dụng công nghệ mạnh mẽ. Các công ty tài chính công nghệ (Fintech) ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Từ những cơ sở lý luận về mô hình CVNH cùng với thực trạng của hoạt động vay ngang hàng này tại Việt Nam, nhóm tác giả đưa ra những giải pháp cho các công ty P2P Lending phát triển phù hợp với xu hướng thị trường và điều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam. (v) Bài bao “Hiệp định EVFTA và yêu cau hoàn thiện khung pháp lý thir nghiệm diéu chỉnh hoạt động CVNH” của ThS.
Nguyễn Nam Trung (NCS. Dai học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh) trên Tạp chí Pháp lý ngày 04/08/2021. Trong bài báo, tác giả đã đưa ra những phân tích về tổng quan tình hình đất nước, Chính phủ Việt Nam đang thúc đây quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua việc gia nhập nhiều hiệp ước hợp tác và phát triển về kinh tế, trong đó có Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Châu Âu.
Tuy nhiên, thực tiễn tại các nước phát triển trên thế giới chứng minh rang các dịch vụ tài chính mới, đặc biệt là P2P Lending, tiềm ân nhiều rủi ro to lớn đến sự an toàn của thị trường tài chính, và hơn nữa pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định về hành lang pháp lý cho hoạt 8 động của các tô chức cung cấp dịch vụ P2P Lending.