ĐẶT VẤN ĐỀ. SUCAN THIẾT CUA ĐỀ TÀI NGHIÊN CUU. Đề tai “cơ sở lý luận và thực tiễn xáy dựng chương trình giảng day chuyên ngành Luật lao động” do TỔ bộ môn Luật lao động thực hiện là một đề tài cấp trường đã được Hội đồng khoa học Trường Dai học Luật Hà nội cuyệt và cho phép tiến hành nghiên cứu. Đây là một đề tài mang tính ứng cung, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc xây dựng nội dung chương tình giảng dạy phần Luật lao động mở rộng giành cho sinh viên chuyên rganh Khoa pháp luật kinh tế.
Dé tài có phạm vi nghiên cứu rộng, các vấn đề rghién cứu của đề tài vượt ra ngoài phạm vi của các phạm trù pháp ly va nang tính xã hội sâu rộng. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài đòi hỏi phải có điều kiện về thời gian, tập trung lực lượng những người nghiên cứu lý luận và thực tiên trên nhiều lĩnh vực cả kinh tế, pháp lý và xã hội. Do có nhiều hạn chế cả vê mặt khách quan và chủ quan nên Ban chủ nhiệm đề tài thấy không thể tiến hình nghiên cứu được toàn điện tất cả các vấn đề, mà chỉ thu hẹp phạm vi ở mìững nội dung cần thiết nhất phục vụ cho vấn đề học tập và nghiên cứu của sinh viên, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện nội dung chương trình giảng dạy mon Luật lao động cả phần bắt buộc đối với sinh viên thuộc mọi chuyên nganh và phần mở rộng tự chon cho sinh viên các chuyên ngành khác nhau. Trước mắt Ban chủ nhiệm đề tài thấy cần tập trung nghiên cứu và đưa vào chương trình giảng dạy các vấn đề cơ bản: ~ Việc làm và giải quyết việc làm.
- Lao động đặc thù và quy định của pháp luật về lao động đặc thù. - Một số chính sách xã hội có liên quan đến chính sách lao động tiền lường. Việc tập trang nghiên cứu các van đề trên vì các lý do sau: l- Trong chương trình giảng dạy môn Luật lao động phần tích lũy bắt buộc déi với sinh viên thuộc mọi chuyên ngành với số tiết và thời gian học tuy có khác nhau nhưng nội dung giảng dạy giống nhau, sinh viên mới chỉ tích lũy những nội dung chủ yếu của môn học: Vấn đề giao kết hợp đồng lao động, thực hiện trả lương, những quy định về việc ký kết thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội. Song để sinh viên, nhất là sinh viên chuyên pháp luật kinh tế có được kiến thức toàn diện về lĩnh vực lao động, i) tên lương cần phải mở rộng phạm vi nghiên cứu va hoc tap cho ho trên một ‹ố vấn đề liên quan đến lao động: quan lý Nhà nước về lao động, những quy cinh trong hoạt động dịch vụ tư vấn việc làm, các hình thức và phạm vi dịch \u việc làm, trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức kinh tế trong hoạt động dịch \u việc làm, cơ chế, chính sách và biện pháp giải quyết việc làm cho người ho động, các chính sách của Nhà nước đối với một số loại lao động đặc thù tong xã hội: Lao động trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật, lao động có trình độ cao.Chính sách ưu đãi xã hội đối với một số đối tượng trong xã bội.
2- Những năm gan đây, Trường Dai học luật đều có chương trình giảng day chuyên sâu cho sinh viên theo các chuyên ngành hẹp, phù hợp với nhu cầu đào tạo cán bộ làm thực tiễn, trong đó chương trình chuyên sâu về luật lao cộng cho sinh viên chuyên Khoa pháp luật kinh tế được thiết kế 60 tiết học. “hời gian qua việc giảng dạy phần chuyên sâu về Luật lao động chưa có chương trình và nội dung ổn định đảm bảo cho việc dạy và học. Việc giảng cạy chủ yếu dành thời gian giới thiệu các văn bản mới hoặc cắc văn bản đang soạn thảo. Cùng với sự đổi mới toàn diện đất nước kéo theo là quá trình thay đổi, hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới trong đó các quy định về chính sách lao động và tền lương về cơ bản đã được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện.
Bộ liật lao động được ban hành đã có hiệu lực, các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động cũng đã được ban hành. Như vậy, việcdành thời gian giới thiệu các văn bản pháp luật là không cần thiết, sinh viên phải tự nghiên cứu. Vì vậy, phải có một chương trình giảng dạy phần chuyên sâu ổn định trên một số lĩnh vực liên quan đến chính sách lao động và tiên lương ma sinh viên chưa được tích lũy ở phần bat buộc trên cơ sở xuất phát từ yêu cầu thực tiên của hoạt động kinh tế và yêu cầu của xã hội đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp. 3- Bộ luật lao động được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/06/1994 gom 17 chương và 198 điều.
Trong đó phần lớn các quy định trong Bộ luật được nghiên cứu và giảng dạy trong phần chủ yếu bắt buộc tích lũy đối với sinh viên thuộc mọi chuyên ngành. Các quy định còn lại thiếu đồng bộ và lien quan đến chính sách lao động tiền lương nói chung cũng cần được nghién cứu một cách nghiêm túc. Như vậy, xét về thực trạng xây dựng pháp luật thì các quy định vê chính sách lao động tiền lương cho đến nay đã tương đối hoàn thiện, có hệ thống và đầy đủ. Một yêu cầu bức thiết đặt ra trong còng tác đào tạo là phải thiết kế một chương trình chuyên ngành phù hợp để sinh viên có điều kiện đi sâu nghiên cứu.
Về nội dung, chương trình chuyên ngành phải bổ sung cho chương trình ciung, đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra như: - Hoàn thiện pháp luật lao động để điều chỉnh quan hệ lao động và các qian hệ liên quan, giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình sử dụng sức la động. - Tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động. - Tư vấn, hướng dẫn các bên thiết lập, duy trì mối quan hệ lao động hài hoa, ổn định, thúc day thị trường lao động phát triển, giải quyết việc làm cho ngudi lao động. II NHỮNG NỘI DỤNG CƠ BẢN CUA DE TÀI.
L- Việc lam và giải quyết việc lam: Việc làm và giải quyết việc làm đã và đang là mối quan tâm của mọi người và của cả xã hội. Về kinh tế, việc làm gắn với hiệu quả sản xuất, thu nhập và đảm bảo phát triển kinh tế. Việc làm được giải quyết tốt là điều kiện én định trật tự xã hội, giải quyết các chính sách xóa đói giảm nghèo, bài trừ tệ nạn xã hội và là tiền đề xây dựng xã hội văn minh. Đến một mức nào đó, viéc làm sẽ không còn là vấn đề kinh tế xã hội nữa mà trở thành vấn đề chính trị Thực tế cho thấy, quốc gia nào giải quyết tốt việc làm thì sẽ phát triển kinh tế và ổn định chính trị.
Ở nước ta, kinh tế chưa phát triển, nguồn tích lũy và đầu tư chưa lớn, dân số tăng nhanh.dẫn đến mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm và khả năng thu hú: lao động. Điều đó không chỉ ảnh hưởng tới 3 triệu người thất nghiệp, mà còn ảnh hưởng tới điều kiện lao động, thu nhập và sự ổn định công việc của 40 triệu người trong độ tuổi lao động, tới gia đình họ và toàn xã hội. Hàng năm, có tới | triệu người bước vào độ tuổi lao động, một số doanh nghiệp vẫn đang tiến hành sắp xếp lại cơ cấu lao động, thay đổi công nghệ dẫn đến lao động đang làm việc bị đôi dư, mất việc làm. Hơn 80% dân số sống ở nông thôn không sử dụng hết quỹ thời gian lao động nên một số đổ về các thành phố lớn và xuất hiện các chợ lao động và nhiều vấn đề xã hội phức tạp.Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa làm cho sự phân công lao động không chỉ dừng lại ở phạm vi các quốc gia mà đang diễn ra trong phạm vi quốc tế cũng đặt ra nhiều mối quan hệ cần giải quyết.
Do vậy, nghiên cứu vấn đề việc làm là hết sức cần thiết. Có hiểu rõ tầm quan trọng, bản chất của vấn đề việc làm mới có thể có những phương hướng, biện pháp phat triển việc làm phù hợp, giải quyết các vấn đề kinh tế, lao động và xã hội hiệu quả. Nhà nước ta đã đề cập đến vấn đề việc làm ngay từ Sắc lệnh 29 năm 1947 và ngày càng quan tâm đến chính sách việc làm. Song, trải qua hai cuộc chiến tranh và một thời gian dài duy trì cơ chế hành chính quan liêu bao cấp với chủ trương chỉ duy trì hai thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nên vấn đề việc làm chưa được nhìn nhận toàn diện.
Từ đầu những năm 1980, Nhà nước có chủ trương xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm nhưng vẫn nằm trong kế hoạch hành chính tập trung. Cho đến khi Bộ luật lao đông ra đời, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần thco cơ chế thị trường mới được đề cập đến một cách tương đối đồng bộ. Cũng chính vì vậy mà vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động từ trước đến nay chưa được đặt ra và chưa có điều kiện để đặt ra trong chương trình giảng dạy môn luật lao động. Giáo trình Luật lao động mới chỉ giới thiệu sơ lược về quan hệ việc làm, quan hệ học nghề để giải quyết việc làm, những quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành Luật lao động.
Nhưng như đã phân tích ở trên, việc làm và giải quyết việc làm đã là một vấn đề bức xúc trên thực tế và là một chính sách quan trọng của các Nhà nước. Đường lối giải quyết việc làm đã được Đảng ta chủ trương “kế? hợp giữa giải quyết việc lam tại chỗ với phan bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh té mới, hình thành các cụm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ Ở nông thôn.đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động. Da dạng hóa việc lam và thu nhập để thu hit lao động ở mọi thành phần kinh tế.