MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sông Đăm (còn gọi là sông Pheo) thuộc hệ thống thủy lợi sông Nhuệ, lưu vực phụ trách có diện tích 4.792,9ha bao gồm diện tích tiêu huyện Đan phượng ra kênh T1 về sông Đăm gồm 5 xã Liên Hà, Liên Trung, Tân Hội, Tân Lập là 3.200 ha, diện tích tiêu cho Quận Bắc Từ liêm gồm 6 xã, phường Thượng cát, Tây tựu, Liên mạc, Minh khai, Phú diễn, Cổ Nhuế là 1. Đây là một lưu vực kín được bao bọc bởi phía Bắc là đê sông Hồng, phía Tây là đê sông Đáy, phía Nam là đường 32, phía Đông là sông Nhuệ. Hướng dốc từ Tây sang Đông theo dọc trục sông Đăm.
Theo quy hoạch phát triển Thành phố Hà Nội đến năm 2030, diện tích nông nghiệp của các xã, phường trong lưu vực tiêu của sông Đăm giảm dần và chuyền dần sang đô thị và vành đai xanh. Trong vài năm gần đây tốc độ đô thị hóa trong lưu vực sông Đăm tăng nhanh khiến nhu cầu tiêu tăng mạnh, nhưng hạ tầng thoát nước trong khu vực chưa đáp ứng đủ nên đã xảy ra việc tràn kênh, ngập úng trong lưu vực phụ trách. Địa hình toàn vùng hệ thống sông Đămnhìn chung tương đối bằng phẳng, cao độ trung bình (+6,0÷ +7,0)m; cao độ phổ biến (+6,4 ÷ +6,6)m; thấp nhất là khu vực phía Đông Nam của vùng dự án thuộc các xã, phường Phú Diễn và Cổ Nhuế, cao độ (+5,3÷5,5)m. Hướng dốc chung của toàn vùng là Tây Bắc-Đông Nam, cao ở phía các xã thuộc huyện Đan Phượng và thấp dần về phía cửa ra sông Nhuệ thuộc Quận Bắc Từ Liêm.Hướng dốc thứ hai là từ phía sông Hồng và từ đường 32 vào trục tiêu sông Đăm.
Như vậy có thể nói xu thế dốc của địa hình tự nhiên trong lưu vực phù hợp với hướng tiêu tự chảy từ sông Đăm ra sông Nhuệ. Sông Đăm là dòng sông tự nhiên đóng vai trò là trục tiêu chính cho vùng nghiên cứu, mặt bằng tuyến sông không thẳng và mặt cắt ngang thay đổi nhiều từ 5m đến 15m. Các tuyến tiêu nhánh đổ vào trục sông Đăm theo hình thức tự chảy. Hiện trạng hệ thống tiêu nước sông Nhuệ trở nên quá tải, lạc hậu về công nghệ, vận hành chưa khoa học.
Do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, cơ cấu sử dụng đất thay 1 đổi theo hướng tăng tỷ trọng đất đô thị và giảm tỷ trọng đất nông nghiệp, biến đổi khí hậu khiến các trận mưa có cường độ lớn thường xuyên xảy ra hơn làm cho vấn đề ngập úng tại đây trở nên ngày càng bức xúc. Trước bức xúcvề tình trạng ngập úng và tình trạng lấn chiếm lòng kênh, thành phố Hà Nội đã phê duyệt dự án Dự án Cải tạo tiêu thoát nước sông Pheo (sông Đăm), huyện Từ Liêm, TP Hà Nội [1]. Nhưng với kinh phí hạn hẹp và đầu tư không đồng bộ nên chỉ giải quyết được vấn đề khai thông ách tắc dòng chảy và kè một vài vị trí xung yếu chống lấn chiếm với bài toán thủy lực tiêu cho nông nghiệp là chính và chỉ phù hợp với hiện trạng cơ cấu sử dụng đất năm 2010. Các nghiên cứu được công bố gần đây của các tác giả: Nguyễn Song Dũng [2], Dương Thanh Lượng [3] và Lưu Văn Quân … về vấn đề tiêu thoát cho đô thị và vùng hỗn hợp đô thị - nông nghiệp.
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến nhu cầu tiêu nước của lưu vực sông Đăm, Hà Nội” bằng mô phỏng, đánh giá hệthống tiêudo ảnh hưởng của đôthịhóanhằmcungcấpcáccơ sở khoahọcđể đề xuất các giải pháp cải tạo, nâng cấphệ thống tiêu sông Đăm là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa đến nhu cầu tiêu nước của lưu vực sông Đăm. - Đề xuất được giải pháp cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu nước sông Đăm.
Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu lưu vực sông Đăm, Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà nội. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3. Cách tiếp cận - Tiếp cận thực tế: đi khảo sát, nghiên cứu, thu thập các số liệu quy hoạch, thiết kế của hệ thống tiêu; 2 - Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận, tìm hiểu, phân tích hệ thống từ tổng thể đến chi tiết, đầy đủ và hệ thống. - Tiếpcận các phương pháp nghiên cứu mới về tiêu nước trên thế giới.
Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa. - Phương pháp kế thừa. - Phươngpháp phân tích, thống kê. - Phương pháp mô hình toán.
- Phương pháp mô hình toán, thủy văn, thủy lực. TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN TIÊU NƯỚC 1. Đô thị hóa ở Việt Nam và Thành phố Hà Nội. Khái quát về tình hình đô thị hóa ở Việt Nam Sau bản tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nền kinh tế đất nước non trẻ chủ yếu dựa vào nền kinh tế lúa nước, lúc này có trên 90% dân số sống tại nông thôn, chỉ có vài đô thị được gọi là lớn ở miền Bắc như Hà Nội, Nam Định và Hải Phòng…Từ 1945 đến 1975 toàn bộ nguồn lực đất nước phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ thống nhất đất nước.
Thời gian này các vùng đô thị hầu như giữ nguyên, thậm chí Hà Nội còn bị tàn phá nặng nề trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện biên phủ trên không” năm 1972 của Mỹ. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng năm 1975, nền kinh tế đất nước thuộc diện thu nhập thấp so với các nước trên thế giới. Cả nước tập trung khắc phục hậu quả của chiến tranh và từng bước xây dựng kinh tế với mức tăng trưởng chậm do chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp lạc hậu. Cho đến năm 1990 Đảng và Nhà nước tạo ra cơ chế quản lý kinh tế mới đó là Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy nền kinh tế đất nước từ thu nhập thấp sang nước có thu nhập trung bình.
Tốc độ đô thị hóa của Việt Nam cũng song hành với tốc độ phát triển kinh tế và tăng tốc nhanh vào những năm gần đây, như bảng 1. Mức độ đô thị hóa (tỷ lệ dân số đô thị) ở Việt Nam giai đoạn 1931-2013 Năm 1931 1940 1951 1960 1970 1979 1989 1999 2009 2013 (b) % 7,5 8,7 10,0 15,0 20,6 19,2 22,0 23,5 29,6 33,47 Nguồn: http://www.constructiondpt, Bộ Xây dựng, 2013. Theo nghiên cứu của Hoàng Bá Thịnh và cộng sự cho thấy số lượng đô thị cũng tăng lên “hệ thống đô thị Việt Nam không ngừng phát triển; từ 629 đô thị (năm 1999) đã tăng lên tới 755 đô thị (năm 2010), và tính đến tháng 11 năm 2013 cả nước đã có 770 đô thị. Trong đó, có 02 đô thị loại đặc biệt, 14 đô thị loại I, 11 đô thị loại II, 52 đô thị loại III, 63 đô thị loại IV, còn lại là đô thị loại V…” 4 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam có những đặc điểm sau: a.
Đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa Quá trình công nghiệp hóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các khu công nghiệp tập trung nhiều công nhân và yêu cầu tất yếu phát sinh nhu cầu ở khiến các đô thị phát triển theo. Số lượng các khu công nghiệp chia theo khu kinh tế trọng điểm và địa phương STT Tỉnh, thành phố Số lượng Tỉnh, thành phố Số lượng Miền Bắc 1 Hà Nội 14 Hưng Yên 5 2 Vĩnh Phúc 5 Hải Dương 11 3 Quảng Ninh 4 Hà Nam 2 4 Bắc Ninh 15 Bắc Giang 1 5 Hải Phòng 5 Tổng 62 Miền Trung 1 Đà Nẵng 6 Bình Định 7 2 Thừa Thiên - Huế 3 Phú Yên 4 3 Khánh Hòa 5 Gia Lai 1 4 Quảng Ngãi 6 Đắc Lắc 1 5 Quảng Nam 8 Đắc Nông 1 Tổng 42 Đông Nam Bộ 1 Bình Thuận 6 Bà Rịa - Vũng Tàu 13 2 Tp. Hồ Chí Minh 19 Tây Ninh 4 3 Đồng Nai 31 Tiền Giang 5 4 Bình Dương 26 Bình Phước 7 5 Long An 36 Tổng 147 Đồng bằng sông Cửu Long 1 An Giang 5 Trà Vinh 1 2 Bạc Liêu 5 Cần Thơ 10 3 Bến Tre 2 Sóc Trăng 4 4 Cà Mau 4 Hậu Giang 3 5 Vĩnh Long 4 Kiên Giang 6 6 Đồng Tháp 3 Tổng 47 Nguồn: Đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay (2015)http://viipip. Đô thị hóa không đồng đều Phát triển đô thị mạnh mẽ tại những khu vực có tiềm năng và khả năng phát triển kinh tế.
Nhưng khu vực phát triển kinh tế kém sẽ có sự dịch chuyển dân số về vùng có khu công nghiệp và hình thành đô thị tại đó hoặc đòi hỏi đô thị tại đó mở rộng để đáp ứng nhu cầu. Tỷ lệ đô thị hóa theo vùng, 2009-2014 Tỷ lệ đô thị hóa (%) Số TT Vùng 2009 2014 Cả nước 29,6 33,1 1 Trung du và miền núi phía Bắc 16,0 17,0 2 Đồng băng Sông Hồng 29,2 33,8 3 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 24,1 27,1 4 Tây Nguyên 27,8 29,1 5 Đông Nam Bộ 57,1 62,3 6 Đồng băng Sông Cửu Long 22,8 24,7 Bảng 1.3 cho thấy vùng đồng bằng có tốc độ đô thị hóa lớn hơn các vùng núi và trung du, tỷ lệ đô thị hóa năm 2014 cao hơn 2009 ở tất cả các vùng trong cả nước. Đô thị hóa nhiều nơi thiếu quy hoạch Sự dễ dãi, sự yếu kém trong qui hoạch, quản lý, sử dụng cùng với tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng quỹ đất tuỳ tiện, lãng phí. Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú.
Hệ quả là, hàng chục vạn hécta đất nông nghiệp màu mỡ, nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đã bị sử dụng cho mục đích khácđã tác động mạnh đến công ăn, việc làm, thu nhập và đời sống của hàng triệu lao động nông nghiệp. Đi liền với thực trạng này là sự nảy sinh phân hoá giàu nghèo, thậm chí cả mâu thuẫn xã hội. Tình hình đô thị hóa ở Thành phố Hà Nội Với thời gian 10 thế kỉ qua, lịch sử Hà Nội luôn gắn liền với quá trình đô thị hóa. Từ Thành cổ Hà Nội, đến khu phố cố và khu phố Pháp được xem như trung tâm lịch sử, 6 văn hóa và hành chính của thành phố.
Thành phố có khoảng 50.000 người vào năm 1902 khi là thủ đô của thuộc địa Đông Dương và có khoảng hơn 800.000 người vào năm 1975 khi kết thúc cuộc chiến thống nhất đất nước.