Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Giống là tư liệu sản xuất đặc biệt đóng vai trò rất quan trọng trong nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng. Năng suất ngô của một vùng có thể tăng lên một cách đáng kể nếu chọn được giống có năng suất cao và ổn định, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. Khả năng thích ứng của giống với các điều kiện sinh thái rất khác nhau.
Vì vậy, muốn phát huy hiệu quả của giống, cần tiến hành các nghiên cứu đánh giá khả năng thích ứng của giống mới trước khi đưa ra sản xuất đại trà nhằm tìm ra những giống thích hợp nhất với từng vùng sinh thái. Thanh Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, điều kiện tự nhiên phù hợp với sinh trưởng phát triển của cây ngô và ngô được coi là một trong hai cây trồng chính được ưu tiên phát triển nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Mặc dù năng suất ngô ở Thanh Sơn đạt khá cao (năm 2015: 46,4 tạ/ha), cao hơn năng suất trung bình của Việt Nam (2015: 45,39 tạ/ha). Như vậy Thanh Sơn có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất ngô.
Tuy nhiên hiện nay một số nơi trong huyện còn sử dụng giống địa phương và giống thụ phấn tự do. Các giống ngô lai được trồng ở đây có nguồn gốc từ các công ty nước ngoài như Mosanto, Syngenta, Bioseed,… nên khả năng thích ứng của các giống với mỗi vùng sinh thái còn nhiều hạn chế. Vì vậy để phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất, trước khi đưa các giống ngô lai mới vào sản xuất đại trà tại một vùng nào đó, nhất thiết phải tiến hành đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và tính thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng đó. Vì vậy, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Hiện nay ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù diện tích đứng thứ 2 (sau lúa mì), nhưng ngô có năng suất và sản lượng đạt cao nhất. Tình hình sản xuất ngô, lúa mì và lúa nước được trình bày ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô, lúa mì và lúa nước năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Loại cây (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Lúa mì 220,11 34,05 749,46 Lúa gạo 159,81 46,37 740,96 Ngô 187,96 56,40 1.060,11 (Nguồn: FAOSTAT,1/2018) [22] Số liệu bảng 1.1 cho thấy, năm 2016 diện tích trồng lúa mì đạt cao nhất (220,11 triệu ha), tiếp đến là diện tích trồng ngô (187,96 triệu ha).
Tuy nhiên năng suất ngô đạt cao nhất (56,4 tạ/ha), do vây sản lượng ngô luôn đứng đầu (1.060,11triệu tấn), cao hơn so với lúa mì và lúa gạo. Trong những năm gần đây nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất đã làm tăng năng suất và sản lượng ngô. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2016 được trình bày ở bảng 1. Số liệu bảng 1.2 cho thấy diện tích trồng ngô trên thế giới tăng dần trong 7 năm gần đây, dao động từ 164 - 188 triệu ha.
Năng suất ngô tăng nhưng không đáng kể từ 51,9 tạ/ha (năm 2010) đến 56,4 tạ/ha (2016), tăng 4,5 tạ/ha. Tuy nhiên, do diện tích tăng cho nên sản lượng ngô vẫn có xu hướng tăng trong 7 năm qua. Từ 851,3 triệu tấn (năm 2010) lên 1. Có được kết quả này, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống ngô, đặc biệt là các nước phát triển.
e 6 Đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác và ứng dụng những thành tựu của công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản và cơ khí hóa … vào sản xuất ngô.2: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới trong giai đoạn 2010-2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 164,0 51,9 851,3 2011 171,2 51,8 886,0 2012 178,8 48,9 874,2 2013 185,9 54,6 1.060,1 (Nguồn: FAOSTAT,1/2018) [22] Hiện nay trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô, trong đó có 38 nước là các nước phát triển còn lại là các nước đang phát triển. Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác và trình độ khoa học kỹ thuật nên có sự chênh lệch về năng suất ngô ở các châu lục. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2016 được trình bày ở bảng 1. Số liệu bảng 1.3 cho thấy Châu Mỹ là châu lục có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới.
Năm 2016, diện tích trồng ngô của châu Mỹ đạt 70.218 ha, chiếm 37,23% diện tích trồng ngô trên toàn thế giới. Do điều kiện khí hậu phù hợp với sinh trưởng, phát triển của cây ngô, bên cạnh đó với trình độ thâm canh cao nên năng suất ngô của châu Mỹ đứng thứ 2 trên thế giới (sau châu Đại Dương: 81,74 tạ/ha), năm 2016 đạt 78,12 tạ/ha. Do diện tích lớn nên sản lượng ngô châu lục này đạt cao nhất (547.865 tấn), chiếm 51,64% sản lượng ngô toàn thế giới.3: Tình hình sản xuất ngô một số châu lục trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực ( ha) (tạ/ha) (tấn) Châu Mỹ 70.713 Châu Đại Dương 77.565 (Nguồn: FAOSTAT, 1/2018) [22] Châu Á có diện tích trồng ngô đứng thứ 2, năm 2016 đạt 63,452.629 ha, song do năng suất thấp (51,08 tạ/ha), nên sản lượng ngô đứng thứ 3 thế giới (324. Châu Phi là khu vực có diện tích trồng ngô đứng thứ 3 thế giới, năm 2016 đạt 36.956 ha, nhưng do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, kinh tế khó khăn, trình độ thâm canh chưa cao nên năng suất ngô châu lục này thấp nhất thế giới (19,29 tạ/ha), do đó sản lượng ngô vùng này thấp (70.
Châu Âu có diện tích trồng ngô đứng thứ 3 thế giới, năm 2016 là 17. Ở châu Âu, ngô được trồng ở các nước phát triển, ứng dụng kỹ thuật hiện đại trong nghiên cứu chọn tạo giống mới và trình độ thâm canh cao, nên năng suất ngô cao thứ 3 so với các châu lục khác (66,16 tạ/ha). Do vậy sản lượng ngô vùng này đứng thứ 3 thế giới (117. Châu Đại Dương có diện tích trồng ngô thấp nhất thế giới, năm 2016 là 77.
Tuy nhiên châu lục này có năng suất ngô cao nhất thế giới (81,74 tạ/ha). Tuy nhiên do diện tích trồng ngô ít nên sản lượng ngô châu lục này thấp, năm 2016 đạt 631. Trên thế giới, sản xuất ngô chủ yếu tập trung ở một số nước phát triển. Tình hình sản xuất ngô của một số nước được trình bày ở bảng 1.4: Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (ha) (tạ/ha) (tấn) Mỹ 35.000 (Nguồn: FAOSTAT, 1/2018) [22] Số liệu bảng 1.4 cho thấy, trong các quốc gia sản xuất ngô, Mỹ là luôn chiếm vị trí hàng đầu về năng suất và sản lượng ngô.
Năm 2016 diện tích trồng ngô của Mỹ đứng thứ 2 trên thế giới với 35.050 ha, năng suất 109,6 tạ/ha và sản lượng đạt 384.890 tấn, chiếm 36,3% tổng sản lượng ngô trên toàn thế giới. Sản xuất ngô của Mỹ phát triển mạnh là do thành công trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, từ những năm 1990, 100% diện tích trồng ngô của Mỹ đã sử dụng các giống ngô lại, trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Rinke. E, 1979) [16] Trung Quốc là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới (năm 2016: 38.528 ha), song năng suất ngô của Trung Quốc thấp (59,58 tạ/ha) so với Mỹ. Do đó sản lượng ngô của Trung Quốc năm 2016 (231.497 tấn) đứng thứ 2 sau Mỹ, chiếm 21,87% tổng sản lương ngô toàn thế giới.
Braxin là nước đứng thứ 3 trên thế giới về diện tích ngô, năm 2016 gieo trồng với diện tích 14.862 ha, đạt năng suất 42,88 tạ/ha và sản lượng là 64. Sản lượng ngô của Braxin đáp ứng đủ nhu cầu thị trường nội địa. Dự báo đến năm 2019 - 2020, Braxin sẽ vươn lên trở thành nước xuất khẩu ngô hàng đầu trên thế giới. Tiếp đến là Ấn Độ (9,6 triệu ha) và Mexico (7,5 triệu ha), mặc dù diện tích trồng ngô 2 quốc gia này lớn nhưng năng suất ngô thấp (25,75 - 37,18 tạ/ha) nên sản lượng ngô đạt thấp (26.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngô là cây trồng nhập nội đã được trồng cách đây khoảng 300 năm và được trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước. Đặc biệt cây ngô luôn gắn bó với đồng bào các dân tộc vùng núi, nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số chọn ngô là cây lương thực chính. Tuy nhiên, việc phát triển cây ngô ở Việt Nam giai đoạn đầu còn mang tính tự phát, cung cấp cho cuộc sống hàng ngày. Do đó diện tích nhỏ lẻ, manh mún, không tác động của khoa học kỹ thuật nên năng suất rất thấp, giai đoạn 1960 - 1980 chỉ đạt 10 - 11 tạ/ha.
Từ những năm 1990 trở lai đây, sản xuất ngô của Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt, do sử dụng các giống ngô lai năng suất cao kết hợp với áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong canh tác. Tình hình sản xuất ngô trên ở Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 2010 1.140 (Nguồn: FAOSTAT, 1/2018) [22] Từ năm 2010 trở lại đây, sản xuất ngô của Việt Nam có nhiều thay đổi. Diện tích trồng ngô dao động từ 1.648 ha (năm 2014), năm 2016 diện tích trồng ngô là 1.830 ha, tăng so với năm 2010 nhưng giảm so với giai đoạn 2013 - 2015. e 10 Năng suất ngô tăng dần qua các năm, dao động từ 40,9 - 45,53 tạ/ha, đạt cao nhất năm 2016 (45,53 tạ/ha).
Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô tăng dần trong 7 năm gần đây, từ 4. Do nước ta đã chuyển đổi từ sản xuất quảng canh sang thâm canh, ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và đưa giống mới vào sản xuất, đặc biệt là sử dụng các giống ngô lai năng suất cao, khả năng thích ứng rộng vào sản xuất đại trà. Tuy nhiên năng suất ngô của Việt Nam còn thấp so với năng suất trung bình của thế giới và những nước phát triển.