Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Nghiên cứu nước ngoài 1.1 Nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius eharai Phân loại Giới động vật : Animalia Ngành chân khớp : Arthropoda Lớp hình nhện : Arachnida Bộ ve bét : Acari Họ : Phytosetidae Giống : Amblyseius Loài : Amblyseius eharai Amitai va Swirski A. eharai là một thiên địch phổ biến thường được sử dung dé quan lý nhện đỏ Panonychus citri, nhện vàng Phyllocoptruta oleivora và bọ trĩ trên nhiều loại cây trồng. eharai là động vật ăn thịt thuộc nhóm ITI (theo McMurtry và cộng sự. 2013), được đặt tên bởi Amitai và Swirski lần đầu tiên vào năm 1981.
eharai được tìm thấy tại Trung Quốc (Giang Tô, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam và Hồng Kông), Đài Loan, Quan dao Matsu, Han Quéc, Nhat Ban (Akita, Miyagi, Yamagata, Fukushima, Saitama, Ibaraki, Chiba, Tokyo, Kanagawa, Niigata, Toyama, Ishikawa, Fukui, Nagano, Shizuoka, Gifu, Shiga, Kyoto, Mie, Nara, Wakayama, Hyogo, Tottori, Shimane, Okayama, Hiroshima, Yamaguchi, Tokushima, Ehime, Kochi, Fukuoka, Oita, Nagasaki, Kumamoto, Miyazaki, Kagoshima, Okinawa), Dai Loan va Malaysia. (Ho va cs.2 Đặc điểm sinh học của Amblyseius eharai A. eharai là loài nhện nhỏ bắt mỗi có màu sắc cơ thé thay đổi theo chế độ ăn khác nhau từ màu trắng - vàng, vàng - nâu và đỏ cam. Kích thước cơ thê của 4.
eharai cái khi bị bỏ đói hoặc ăn trứng dường như có ngoại hình tương tự nhau với màu cơ thé mờ và cơ thé hẹp chiều rộng hơn (Hình 1A và 1B), những con cái đã tiêu thụ ấu trùng thì có màu nâu dé hỗ trợ tiêu hóa và cơ thể rộng hơn (Hình 1C). Cũng như hầu hết các loài thuộc họ Phytoseiidae, A. eharai có thời gian phát triển tương đối ngắn, nhưng mật số quan thê sẽ phụ thuộc vào chế độ ăn, nhiệt độ và ẩm độ. Tetranychus urticae trong 24h.
C: Trưởng thành cái ăn ấu trùng 7' urticae 24h 1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh học Nhiệt độ ảnh hưởng lớn tới vòng đời, khả năng sống sót, tuổi thọ, khả năng sinh san và khả năng ăn mồi của loài NBM này. Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển quan thé của A. eharai là 28,1°C, nhiệt độ đưới 12,5°C hoặc trên 33,2°C sẽ dẫn đến anh hưởng tiêu cực tới sự phát triển quần thể, đây được xem là hai ngưỡng nhiệt độ ngưỡng đưới và ngưỡng trên của A. Nhiệt độ tối ưu cho sự phát của A.
eharai là tương đối thấp hơn so với các loài nhện bắt mỗi khá như Amblwseius swirski (30,1 °C), Neoseiulus californicus (29,0 °C), Neoseiulus longispinosus (32,0 °C), hay Neoseiulus womersleyi (30,5 °C). Điều nay có nghĩa là loài săn mỗi này có thể đạt được hiệu suất tối đa nhanh hơn so với các loài phytosend khác khi nhiệt độ thấp. eharai phù hợp với những vùng có nhiệt độ trung bình trong nhà kính không vượt quá 30°C. eharai sẽ có tiềm năng cao như một tác nhân kiêm soát sinh học trong nhà kính.1 Nhiệt độ tối ưu, ngưỡng trên, ngưỡng dưới của A.
eharai và một số loài nhện bắt môi. : Nhiệt độ (°C) Loài Con môi ; ¬ Ngưỡng dưới Tôiuu Ngudng trên A. eharai Tetranychus urticae 12. swirskii Phan hoa lã5 30.
californicus Panonychus ulmi 7. longispinosus 1etranychus urticae 13.womersleyi — Tetranychus urticae 12.2 Anh hưởng của Am độ Kha năng chịu đựng đói hoặc độ âm thấp của nhện nhỏ bat mồi là rat quan trọng dé chúng duy trì quan thé trong môi trường không thuận lợi. Độ âm thuận lợi là yếu tố then chốt cho sự tồn tại của các loài thiên địch (McMurtry và Scriven, 1965). Theo kết quả nghiên cứu của Jie Ji và cs., 2013 thì hau hết trứng của A.
eharai không thé nở ở độ 4m tương đối (RH) thấp hơn 60%. Độ âm tương đối (RH) trong khoảng 70-100 %, tat cả trứng của A. eharai đều phát triển thành con non. Ngoài ra, thời gian sống sót của A.
eharai trong điều kiện RH khoảng 60-80% ngắn hon so với trong điều kiện RH từ 90-100%. Hơn nữa, thời gian sống sót của A. eharai trong điều kiện RH khoảng 60-80% ngắn hơn so với khi RH trong khoảng 90—100% (Ji và cs.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến đặc điểm sinh học Khả năng chịu đựng môi trường không thuận lợi là rất quan trọng đối với các loài thiên địch dé duy trì quan thé va phát huy tác dụng của chúng dé kiểm soát sinh học (Greco và cs., 2006; Wei và cs., 1994; Chant và Fleschner 1960). eharai có khả năng sống sót trong thời gian lên đến 8,1 ngày mà không cần có con môi hoặc các nguồn thức ăn khác (Ji và cs.
Nếu một loài thiên địch có khả năng chiu đói mạnh hơn, nó sẽ tồn tại lâu hơn so với các loài thiên địch khác (Wei và cs. Khi thức ăn khan hiểm, A. eharai bắt buộc phải ăn thịt đồng loại, chủ yếu là trưởng thành ăn nhện non, điều này sẽ ảnh hưởng làm giảm khả năng sinh sản, tuổi thọ và khả năng ăn môi. Tuy nhiên rất khó xác định đồng loại mà chúng đang ăn còn sống hay đã chết.
Cũng theo Jie Ji và cs. (2021) thời gian xử lý con môi của A. eharai ngắn hơn đáng kế so với A. Ở một mức độ nào đó, thời gian xử lý ngắn hơn này có thé bù đắp cho tỷ lệ tan công của A.
Do đó, tỷ lệ tan công tối đa của A. eharai cái đôi với trứng 7: urticae là cao nhất trong số các loài nhện bắt mỗi ho Phytoseid được so sánh, thậm chí cao hơn so với N. Khi được cung cấp với số lượng lớn con môi là nhện kho Carpophagus lactis, quan thé cái A. eharai đã tăng lên 209 + 6,1 (trung bình + SD) sau 24 ngày và dường như đạt mức 6n định sau 20 ngày trong thí nghiệm 10 con cái.
Quan thé cái tăng song song trong thí nghiệm 5 con cái và đã dat 87 + 30,1 sau 16 ngày ( Jie Ji va cs. Cả con đực và con cái của A. eharai đều có thé phát triển thành con trưởng thành với con môi C. Khi cung cấp C.
Jactis làm con mồi, tổng số trứng của con cái A. eharai là 51,1 trứng/con cái, số lượng trứng đẻ hàng ngày là 2,5 trứng/con cai/ngay, tỷ lệ sinh sản thuần của nó (Ro = 33,849), tỷ số con cái (66,24%), trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khá cao (tm = 0,253). Do đó, người ta cho rằng C. Jactis là một con môi tiềm năng cho việc sản xuất hàng loạt A.
eharai (Jie Ji và cs.3 Amblyseius eharai trong quản lý sinh học Nhện nhỏ bắt mồi A. eharai là một loài thiên dich của nhiều đối tượng dịch hại như bọ trĩ, nhện đỏ, nhện vàng được tìm thấy phổ biến trên một số loại cây có múi như bưởi, cam, chanh hay trên một số loại cây trồng khác như chè, quất, kiểng, tre nứa. Đặc biệt, loài động vật ăn thịt này có thé dé dang thích nghi với vùng đất nông nghiệp Đông Á - nơi nó là bản địa. Tuy nhiên các nghiên cứu về nhện bắt mồi 4.
eharai còn rat ít trên thé giới và mới chỉ tập trung vào sự phân bố của chúng (Jie Ji và cs.1 Amblyseius eharai kiểm soát nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Nhện đỏ 7efranychus urticae là một loài gây hại trên toàn thế giới có thé gây hại nặng cho nhiều loại cây trồng trong nhà kính và ngoài đồng ruộng. Chúng làm giảm khả năng quang hợp của cây trồng bằng cách ăn các tế bào thực vật và rất khó kiểm soát do tỷ lệ tăng dân số cao trên nhiều loại cây trồng và khả năng kháng thuốc trừ sâu nhanh chóng. eharai ăn được trứng và ấu trùng của 7: urticae. Tỷ lệ săn mỗi của A.
eharai trên trứng và âu trùng 7' urticae bi ảnh hưởng bởi mật độ con môi, giai đoạn bắt môi và giới tính của A. Khi mật độ 7: urticae ban đầu tăng lên, tỷ lệ ăn mỗi của A. eharai cũng tăng lên. eharai cái ăn âu trùng 7: urticae cao hơn so với trứng của T.
eharai cái tiêu thụ nhiều T. urticae hơn so với con đực (Park và Lee, 2021). So với các loài nhện bat môi họ Phytoseiidae khác đã được nghiên cứu trước đây, khả năng ăn 7. eharai dường như cao hơn A.
persimilis trong các điều kiện tương tự. Ngoài ra, khả năng săn mồi của A. eharai có thé tăng lên theo tuổi trưởng thành. eharai dường như có tiềm năng phát triển thương mại tốt như một loài thiên địch mới dé tăng cường kiểm soát sinh học đối với 7: urticae (Park và Lee, 2021).
Cả con đực và con cái của A. eharai đều tiêu thụ nhiều ấu trùng 7: urticae hơn trứng. eharai cái đã tiêu thụ 22,7 au trùng va 19,1 trứng 7' urticae trong suốt 24 giờ. eharai đực tiêu thụ 11,8 ấu trùng và 7,8 trứng 7: urticae trong 24 giờ (Park và Lee, 2021).
eharai kiém soat Aculops pelekassi (Keifer) (Acari: Eriophyidae) Aculops pelekassi (Keifer), họ Eriophyoid, là loài nhện hai màu hồng gây hại nặng trên cây có múi như cam, chanh. Mặc dù kích thước cơ thể của A. pelekassi cực kỳ nhỏ, chỉ từ 0,15 mm đến 0,17 mm, loài này là một trong những loài gây hại nghiêm trọng trên cây có múi. pelekassi bám và gây hại trên lá, cành xanh và quả.
pelekassi chích hút hại lá, cành xanh và quả. Đặc biệt, chúng phát triển mạnh trên qua từ thang 9 đến tháng 10 dẫn đến tổn thương vỏ qua và làm giảm năng suất và chat lượng qua (McCoy, 1996; Seki, 1975). Mặc dù nhện hai Eriophyoid từ lâu đã được công nhận là con môi của nhện bắt mỗi họ Phytoseiid, một số loài được báo cáo là không đủ thức ăn cho sự tồn tại và sinh sản của một số lượng đáng kế các loài phytoseiid (Sabelis, 1996). Theo Ashihara va cs.
(2004) con non của A. pelekassi dé phat trién.3 Amblyseius eharai kiểm soát nhện đỏ son Panonychus citri Nhện đỏ cam chanh P. citri là một loài dich hại quan trọng hang đầu trên cây quả có múi. citri tan công trên lá va trái, chích cap va hút nhựa lá và trái.
Trên lá, vết cap và hút tạo thành những chấm nhỏ li ti trên mặt lá, khi bi nặng, vết chấm lan rộng, lá có màu ánh bạc, lá sau đó có thể bị khô và rụng. Khi mật số nhện cao, cả cành non cũng bị nhện tấn công, cảnh cũng trở nên khô và chết. Đề đánh giá hiệu quả của hai loài nhện bắt mỗi trong việc kiểm soát sinh học P. citri, lịch sử sông của A.
eharai với con môi P. citri đã được nghiên cứu ở 25 + 1°C. Kết quả cho thay thời kỳ phát triển của giai đoạn âu trùng và toàn bộ thế hệ của A. swirskii ngắn hơn đáng kể so với A.
eharai, nhưng không có sự khác biệt đáng ké về thời kỳ phát triển giữa hai loài này ở các giai đoạn khác. Ngoài ra, con non của A.